Anh hùng Lực lượng vũ trang

ĐẠI TƯỚNG VĂN TIẾN DŨNG – VỊ TƯ LỆNH CỦA NHỮNG BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ

Hà Nội22/08/2026xã Nguyễn Bỉnh Khiêm (xã Nguyễn Bỉnh Khiêm)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 2 tháng 5 năm 1917, tại làng Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội, Văn Tiến Dũng ra đời trong một gia đình lao động. Lớn lên trong xã hội thuộc địa, chứng kiến cảnh người dân mất nước và bị áp bức, ông sớm tham gia phong trào đấu tranh của công nhân. Năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Những năm đầu hoạt động cách mạng, Văn Tiến Dũng nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam. Nhà tù không làm người thanh niên ấy từ bỏ con đường đã lựa chọn. Trái lại, những năm tháng hoạt động bí mật và tù đày đã tôi luyện ở ông bản lĩnh của một người cộng sản, đồng thời giúp ông trưởng thành qua từng nhiệm vụ được tổ chức giao phó.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Văn Tiến Dũng bước vào một chặng đường mới với những nhiệm vụ ngày càng quan trọng trong lực lượng vũ trang cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều cương vị chỉ huy, trực tiếp tham gia chiến đấu và chỉ đạo các đơn vị trên nhiều chiến trường. Từ một cán bộ hoạt động bí mật trong những năm trước Cách mạng Tháng Tám, ông từng bước trở thành một cán bộ quân sự cấp cao. Những năm tháng chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, phải tổ chức lực lượng từ nhỏ đến lớn, đối phó với một đội quân có ưu thế về trang bị đã giúp Văn Tiến Dũng tích lũy kinh nghiệm thực tiễn về tổ chức, chỉ huy và tác chiến. Đó cũng là quá trình hình thành một nhà chỉ huy tham mưu chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1953, Văn Tiến Dũng được giao giữ cương vị Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ đây, phần lớn sự nghiệp quân sự của ông gắn với công tác tham mưu chiến lược và chỉ huy ở cấp cao nhất của quân đội. Tổng Tham mưu trưởng không chỉ là người trực tiếp theo dõi một mặt trận mà phải nhìn toàn bộ chiến trường, tính toán lực lượng, phương tiện, hậu cần, thời cơ và cách đánh. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trên cương vị này, Văn Tiến Dũng được giao trực tiếp chỉ đạo nhiều chiến dịch lớn, trong đó có Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào năm 1971, Chiến dịch Trị – Thiên năm 1972 và đặc biệt là các chiến dịch trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Năm 1971, khi quân đội Mỹ và Quân đội Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhằm đánh phá tuyến chi viện chiến lược trên đường Trường Sơn, quân đội ta mở Chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào. Văn Tiến Dũng được giao trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Đây là một cuộc đối đầu lớn, trong đó quân ta phải tổ chức thế trận đánh địch trên địa bàn rừng núi hiểm trở, đồng thời bảo vệ tuyến vận tải chiến lược. Chiến dịch kết thúc với thắng lợi của quân ta, làm thất bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 và có tác động quan trọng đến chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Một năm sau, ông tiếp tục được giao chỉ đạo Chiến dịch Trị – Thiên năm 1972, một trong những chiến dịch lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những chiến dịch ấy không chỉ là những trận đánh riêng lẻ mà còn là quá trình thử thách năng lực chỉ huy ở cấp chiến lược của Văn Tiến Dũng.

Nhưng bước ngoặt lớn nhất trong sự nghiệp của Văn Tiến Dũng đến vào đầu năm 1975. Sau những diễn biến có lợi trên chiến trường và đặc biệt là thắng lợi tại Phước Long, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhận định thời cơ chiến lược đang xuất hiện. Để tăng cường sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp tại chiến trường miền Nam, đầu năm 1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cử Đoàn đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, mang mật danh A75, do Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng chỉ huy, vào chiến trường. Nhiệm vụ trước mắt của ông là trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch được lựa chọn làm đòn tiến công chiến lược mở đầu.

Điểm quan trọng trong kế hoạch Tây Nguyên là tạo được yếu tố bất ngờ và tập trung lực lượng vào Buôn Ma Thuột – địa bàn có vị trí chiến lược. Trước ngày lên đường, Văn Tiến Dũng cùng các đồng chí trong Bộ Tổng tư lệnh bàn bạc kỹ về cách đánh, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phải tạo bất ngờ, tập trung lực lượng, bảo đảm chắc thắng trận đầu rồi nhanh chóng phát huy thắng lợi. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân ta tiến công Buôn Ma Thuột. Sau khi Buôn Ma Thuột được giải phóng và thế trận của đối phương tại Tây Nguyên nhanh chóng suy sụp, tình hình phát triển vượt xa dự kiến ban đầu. Văn Tiến Dũng cùng các cơ quan chỉ huy theo dõi sát diễn biến, tham mưu cho Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương kịp thời chuyển sang thế tiến công chiến lược rộng lớn hơn. Chiến dịch Tây Nguyên từ ngày 4 tháng 3 đến ngày 3 tháng 4 năm 1975 đã tạo ra một bước ngoặt quyết định, mở ra điều kiện để cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 phát triển với tốc độ rất nhanh.

Sau thắng lợi Tây Nguyên, Huế và Đà Nẵng lần lượt được giải phóng. Cục diện chiến trường thay đổi nhanh chóng đến mức Bộ Chính trị quyết định đẩy nhanh thời gian giải phóng miền Nam. Ngày 8 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn – Gia Định; đến ngày 14 tháng 4, chiến dịch được mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh. Văn Tiến Dũng được giao làm Tư lệnh chiến dịch, Phạm Hùng làm Chính ủy. Trước mắt họ là nhiệm vụ quyết định: tổ chức một trận quyết chiến chiến lược đánh vào trung tâm đầu não của chính quyền Sài Gòn.

Trong những ngày chuẩn bị, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh xây dựng phương án tiến công với lực lượng chủ lực hình thành 5 cánh quân, đồng thời phối hợp với lực lượng đặc công, biệt động, lực lượng vũ trang địa phương và các lực lượng chính trị tại Sài Gòn – Gia Định. Ý đồ tác chiến là hình thành thế bao vây, chia cắt, ngăn chặn lực lượng đối phương rút chạy về Sài Gòn, đồng thời dùng các lực lượng cơ động mạnh thọc sâu, đánh chiếm những mục tiêu trọng yếu trong nội thành. Năm mục tiêu quan trọng được xác định trong trung tâm Sài Gòn gồm Bộ Tổng Tham mưu, Dinh Độc Lập, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát và sân bay Tân Sơn Nhất.

17 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Từ nhiều hướng, các cánh quân đồng loạt tiến công vào hệ thống phòng thủ quanh Sài Gòn. Trong những ngày cuối cùng ấy, Bộ Tư lệnh chiến dịch phải liên tục xử lý tình huống trên từng hướng tiến quân, bảo đảm các lực lượng cơ động nhanh nhưng vẫn giữ được sự phối hợp thống nhất. Văn Tiến Dũng cùng Bộ Tư lệnh chiến dịch theo dõi sát diễn biến và chỉ đạo các đơn vị tận dụng từng thời cơ để tiến nhanh vào trung tâm. Chiến dịch diễn ra trong 5 ngày, từ 26 đến 30 tháng 4 năm 1975, với tốc độ tiến công rất nhanh.

Sáng 30 tháng 4, các cánh quân tiến vào nội đô Sài Gòn. Những mục tiêu trọng yếu lần lượt bị chiếm giữ. Xe tăng và bộ binh tiến vào Dinh Độc Lập. 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc, miền Nam được giải phóng, đất nước bước vào thời kỳ thống nhất.

Chiến thắng ngày 30 tháng 4 không phải là kết quả của riêng một cá nhân hay một trận đánh. Đó là kết quả của cả một quá trình chiến đấu lâu dài, của sự lãnh đạo và chỉ đạo chiến lược, của sức mạnh quân sự và chính trị, của hậu phương miền Bắc, các chiến trường miền Nam và sự đóng góp của hàng triệu người. Trong quá trình ấy, Văn Tiến Dũng giữ vai trò đặc biệt ở cấp chỉ huy và tham mưu chiến lược. Từ việc chỉ đạo các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ đến trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Tây Nguyên và sau đó là Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông là một trong những người tham gia trực tiếp vào quá trình chuyển hóa thời cơ chiến lược thành những thắng lợi quân sự liên tiếp trong mùa Xuân năm 1975.

Sau ngày đất nước thống nhất, Văn Tiến Dũng tiếp tục đảm nhiệm những trọng trách quan trọng. Ông vẫn giữ cương vị Tổng Tham mưu trưởng và tham gia lãnh đạo quân đội trong nhiệm vụ xây dựng lực lượng, củng cố quốc phòng, bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, đồng thời thực hiện nhiệm vụ quốc tế. Từ tháng 5 năm 1978 đến năm 1982, ông giữ chức Phó Bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương. Từ tháng 2 năm 1980 đến tháng 12 năm 1986, ông giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; từ tháng 7 năm 1985 đến năm 1986 là Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Ngày 17 tháng 3 năm 2002, Đại tướng Văn Tiến Dũng qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 84 tuổi. Nhìn lại cuộc đời ông, có thể thấy đó là hành trình kéo dài qua nhiều giai đoạn đặc biệt của lịch sử Việt Nam hiện đại: từ người thanh niên tham gia phong trào cách mạng trong những năm 1930, qua những năm tháng tù đày và kháng chiến chống Pháp, đến vị Tổng Tham mưu trưởng của Quân đội nhân dân Việt Nam và người trực tiếp chỉ đạo những chiến dịch lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đặc biệt, Chiến dịch Tây Nguyên và Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 là hai dấu mốc gắn liền với tên tuổi Văn Tiến Dũng trong lịch sử quân sự Việt Nam.

Điều đáng nhớ về Đại tướng Văn Tiến Dũng không chỉ nằm ở chức vụ hay quân hàm. Đó còn là hình ảnh một người chỉ huy trưởng thành qua thực tiễn chiến tranh, có nhiều năm làm công tác tham mưu chiến lược và trực tiếp trải qua những thời điểm quyết định của cuộc chiến. Từ những ngày hoạt động bí mật trước Cách mạng Tháng Tám đến buổi sáng 30 tháng 4 năm 1975, khi chiến dịch cuối cùng đi đến thắng lợi, cuộc đời quân sự của ông gắn với một chặng đường dài của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong lịch sử, ông được ghi nhận là một trong những nhà chỉ huy, tham mưu chiến lược tiêu biểu của Quân đội nhân dân Việt Nam, đặc biệt gắn với những chiến dịch làm thay đổi cục diện chiến trường và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh – trận quyết chiến chiến lược kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Video / Phóng sự

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn