ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP (3)
Từ một thầy giáo dạy lịch sử, ông đã trở thành người “Anh cả” mẫu mực của Quân đội, người đã kề vai sát cánh cùng Bác Hồ và toàn dân làm nên những chiến công “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Nhắc đến ông, người ta không chỉ nhớ về một vị Tổng tư lệnh tài ba, một nhà quân sự kiệt suất với tài thao lược “văn võ song toàn” mà còn là một con người với trái tim nhân văn sâu sắc khiến cho ta cảm nhận được một tình cảm ấm áp, thiêng liêng. Nhớ về người, trái tim mỗi con dân đất Việt vừa tự hào,

Từ một thầy giáo dạy lịch sử, ông đã trở thành người “Anh cả” mẫu mực của Quân đội, người đã kề vai sát cánh cùng Bác Hồ và toàn dân làm nên những chiến công “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Nhắc đến ông, người ta không chỉ nhớ về một vị Tổng tư lệnh tài ba, một nhà quân sự kiệt suất với tài thao lược “văn võ song toàn” mà còn là một con người với trái tim nhân văn sâu sắc khiến cho ta cảm nhận được một tình cảm ấm áp, thiêng liêng. Nhớ về người, trái tim mỗi con dân đất Việt vừa tự hào, vừa tiếc thương và nhớ ơn để rồi noi theo tấm gương sáng ấy. Và ông là Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Vị tướng huyền thoại của dân tộc Việt Nam.
Bắt đầu sự nghiệp quân sự
Ngày 3 tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương trong năm này và bắt đầu các hoạt động của mình trong Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, một tổ chức chống phát-xít và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam. Ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng.
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo hướng dẫn của Hồ Chí Minh, ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy. Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Ngày 25 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy đội quân này lập chiến công đầu tiên là tập kích diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần.
Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Võ Nguyên Giáp trở thành uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là ủy viên Thường vụ Trung ương, tham gia Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời (từ ngày 28 tháng 8 đến hết năm 1945) và là Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ.
Trong Chính phủ Liên hiệp, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cho đến tháng 7 năm 1947 và từ tháng 7 năm 1948 trở đi).
Cũng trong năm 1946, ông kết hôn với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng Thai Mai).
Thời niên thiếu
Võ Nguyên Giáp sinh ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho, con của ông Võ Quang Nghiêm (Võ Nguyên Thân). Võ Quang Nghiêm là một nho sinh thi cử bất thành về làm hương sư và thầy thuốc Đông y, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ông bị Pháp bắt, đưa về giam ở Huế và mất trong tù.
Năm 1925, Võ Nguyên Giáp rời trường Tiểu học Đồng Hới ở quê nhà Quảng Bình để vào Huế ôn thi vào trường Quốc học Huế (ông đỗ thứ hai sau Nguyễn Thúc Hào). Hai năm sau, ông bị đuổi học cùng với Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Phan Bôi sau khi tổ chức một cuộc bãi khóa. Ông về quê và được Nguyễn Chí Diểu giới thiệu tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng, một đảng theo chủ nghĩa dân tộc nhưng có màu sắc cộng sản thành lập năm 1924 ở miền Trung Việt Nam. Nguyễn Chí Diểu cũng giới thiệu Võ Nguyên Giáp vào làm việc ở Huế, tại nhà xuất bản Quan hải tùng thư do Đào Duy Anh sáng lập và ở báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng. Tại đây, Võ Nguyên Giáp bắt đầu học nghề làm báo, chuẩn bị cho giai đoạn hoạt động báo chí trong thời Mặt trận Bình dân Pháp.
Thời thanh niên
Đầu tháng 10 năm 1930, trong sự kiện Xô Viết Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và bị giam ở Nhà lao Thừa phủ (Huế), cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ Thuần Nho và các giáo sư Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng,…
Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế Đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế. Ông ra Hà Nội, học trường Albert Sarraut và đỗ. Ông nhận bằng cử nhân luật năm 1937 (Licence en Droit). Do bận rộn hoạt động cách mạng, vào năm 1938, ông bỏ dở học chương trình năm thứ tư về Kinh tế Chính trị và không lấy bằng Luật sư.
Từ 1936 đến 1939, Võ Nguyên Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội. Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo Tin tức, Dân chúng.
Tháng 5 năm 1939, Võ Nguyên Giáp nhận dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long, Hà Nội do Hoàng Minh Giám làm giám đốc nhà trường.
Nhìn hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, em càng thấm thía giá trị của lòng yêu nước chân thành và ý chí quật cường của con người Việt Nam. Từ một nhà giáo trở thành một tổng tư lệnh tài ba, Đại tướng đã chứng minh cho mọi người thấy sức mạnh lớn nhất không nằm ở vũ khí hiện đại mà ở trí tuệ, bản lĩnh và niềm tin son sắt vào nhân dân, vào tổ quốc. Cuộc đời giản dị mà thanh cao của ông là minh chứng cho một nhân cách lớn: càng vĩ đại càng khiêm nhường, càng ở đỉnh cao càng sống vì dân tộc. Sự nghiệp của ông khắc họa lên một bài học về ý chí không khuất phục trước khó khăn, phải trân trọng hoà bình hôm nay, bên cạnh đó là sống có lý tưởng, có kỉ luật, và không ngừng nỗ lực trong học tập để mai sau góp phần xây dựng đất nước. Em luôn tự nhắc mình phải nỗ lực từng ngày để xứng đáng với sự hi sinh vì độc lập, tự do dân tộc của cha anh.



