Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Võ Nguyên Giáp là một vị tướng và chiến lược gia quân sự nổi tiếng của Việt Nam, được biết đến với vai trò quan trọng trong các cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất Việt Nam vào giữa thế kỷ 20. Sinh năm 1911 tại tỉnh Quảng Bình, Giáp lớn lên trong một gia đình hoạt động chính trị, được hun đúc trong ông tinh thần chống thực dân. Ông tham gia chính trị cách mạng từ rất sớm, liên kết với các nhân vật chủ chốt như Hồ Chí Minh và góp phần thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương. Giáp đóng vai trò q

Là một giáo viên ở Hà Nội vào năm 1937 và 1938, Giáp đã nảy sinh lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với Napoléon I, người mà sau này ông được cho là đã đồng nhất về mặt lãnh đạo quân sự. Nhiều thập kỷ sau, các học trò cũ vẫn nhớ về những bài giảng của ông về các chiến dịch của Napoléon, cách ông thuật lại các trận đánh một cách chi tiết xuất sắc như thể chính ông là vị tướng tài ba đó hoặc đang chuẩn bị trở thành một người như ông ta. Sau năm 1939, Giáp đã dành phần lớn cuộc đời mình để hành nghề giống như người mà lịch sử đã dạy ông phải ngưỡng mộ. Thật trớ trêu khi nghề nghiệp đó lại được thực hiện trên chính quê hương của Napoléon.
Sau khi sang Trung Quốc, Giáp gia nhập đội ngũ của người thầy chính trị Hồ Chí Minh và trở thành phụ tá quân sự của ông. Khi Pháp bị Đức đánh bại năm 1940, Hồ Chí Minh, Giáp và Phạm Văn Đồng đã cùng nhau vạch ra kế hoạch thúc đẩy các mục tiêu dân tộc chủ nghĩa của Việt Nam. Vượt biên từ Trung Quốc sang Việt Nam vào tháng 1 năm 1941, bộ ba này chuẩn bị thành lập Liên minh Độc lập Việt Nam, một liên minh gồm nhiều lực lượng lưu vong với mục tiêu giải phóng đất nước khỏi ách chiếm đóng của nước ngoài. Được biết đến nhiều hơn với tên gọi Việt Minh, liên minh này được thành lập vào tháng 5 năm 1941. Theo chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Giáp cũng tổ chức một đội quân giải phóng Việt Minh và huấn luyện họ với sự giúp đỡ của Trung Quốc. Đến tháng 12 năm 1944, quân đội của Giáp bắt đầu tiến hành chiến tranh du kích chống lại quân Nhật, những người đã hoàn toàn chiếm đóng Đông Dương.
Được miêu tả là một người hoài nghi trong hành động, Giáp lần đầu tiên hợp tác với Pháp khi họ bị quân Nhật đẩy vào núi. Biệt kích của ông tiến đánh Hà Nội, thủ đô bị chiếm đóng của Việt Nam, vào mùa xuân năm 1945, nhưng sau vụ ném bom Hiroshima (đầu tháng 8 năm 1945), Giáp đã chủ động tiếp cận Nhật Bản, với hy vọng nhận được vũ khí từ họ. Sự hợp tác ngắn ngủi của Giáp với Nhật Bản đã mang lại kết quả vào cuối tháng 8 năm 1945, khi họ cho phép quân của ông tiến vào Hà Nội trước quân Đồng minh. Quân Đồng minh khi đó buộc phải đối phó với Giáp và Hồ Chí Minh.
Sau khi Hoàng đế Bảo Đại thoái vị, Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập của Việt Nam vào tháng 9 năm 1945. Ông trở thành chủ tịch nước, và Võ Nguyên Giáp được chọn làm Bộ trưởng Quốc phòng và Nhà nước. Thật không may, Giáp, người vốn đã bị coi là thân Moscow, không thể kiềm chế được việc bày tỏ sự căm ghét mãnh liệt đối với Pháp vào thời điểm Hồ Chí Minh đang cố gắng tạo dựng hình ảnh tốt đẹp cho chính phủ của mình, đặc biệt là trên trường quốc tế. Do đó, Giáp đã bị loại khỏi nội các một thời gian ngắn. Tuy nhiên, cuối cùng, Pháp không muốn từ bỏ yêu sách đối với Việt Nam bằng cách công nhận nền độc lập của nước này. Khi các cuộc đàm phán bế tắc cuối cùng hoàn toàn thất bại, Hồ Chí Minh tuyên bố chiến tranh kháng chiến toàn quốc. Giáp, vẫn là tổng tư lệnh quân đội, trở lại nội các với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng.
Thực tế, chính Giáp là người đã đưa ra lời kêu gọi đầu tiên vào ngày 19 tháng 12 năm 1945 (ngày chính thức bắt đầu Chiến tranh Đông Dương), khi đó Hồ Chí Minh đang ốm nằm liệt giường. Bị áp đảo về quân số và thiếu thốn tiếp tế, Giáp đã dẫn đội quân ô hợp của mình vào vùng núi Bắc Kỳ, xây dựng thành một lực lượng du kích sáu mươi nghìn người và chuẩn bị kế hoạch quấy rối quân Pháp một cách có tính toán. Trong chiến lược của Giáp, kháng chiến du kích là giai đoạn đầu tiên, chuẩn bị cho chiến tranh chính quy hơn, có thể dẫn đến một cuộc phản công toàn diện và đánh bại hoàn toàn kẻ thù. Cẩm nang huấn luyện của Giáp, một sự tinh chỉnh các ý tưởng của Mao Trạch Đông, nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố bất ngờ trong chiến tranh du kích. Đánh lừa, phục kích và phân tán lực lượng là những yếu tố chiến thuật quan trọng. Mặc dù về mặt chiến lược, một đội quân có thể bị áp đảo về quân số gấp mười lần, nhưng việc sử dụng cẩn thận chiến thuật du kích có thể khiến đối phương phân tán lực lượng đến mức họ sẽ bị áp đảo gấp mười lần tại điểm được chọn để tấn công. Giáp cũng dạy về sự cần thiết phải duy trì lòng trung thành và sự ủng hộ của nông dân.
Tướng Giáp bắt đầu cuộc tấn công chống lại quân Pháp một cách từ từ bằng cách quấy rối các đồn trú biệt lập nhất của Pháp, bao vây lực lượng phòng thủ để mở đường cho Việt Minh tiến vào vùng nông thôn. Khi lực lượng của ông tăng lên, Giáp đẩy nhanh tốc độ tấn công và hướng chúng vào các đồn trú lớn hơn của Pháp. Đôi khi quân Pháp rút lui khỏi vị trí, bỏ lại những khẩu pháo, súng cối quý giá, hàng ngàn khẩu súng trường và hàng ngàn tấn đạn dược.
Năm 1951, Giáp mất đà tiến công do vượt quá kế hoạch ban đầu và tấn công các khu vực trọng yếu một cách vội vàng và thiếu suy nghĩ, nhằm phô trương ưu thế của mình trước quân Pháp. Tuy nhiên, sau khi rút lui và rút kinh nghiệm từ những sai lầm, quân Giáp đã giành lại thế chủ động và gặt hái được nhiều thành công. Đến cuối năm 1953, quân Pháp đã mệt mỏi với cuộc chiến đã khiến họ thiệt hại 170.000 người và 10 tỷ đô la. Các tướng lĩnh của họ quyết định rằng Điện Biên Phủ sẽ là điểm tựa để họ có thể chặn đứng Giáp và giáng một đòn chí mạng vào quân Việt Nam, chấm dứt chiến tranh.
Pháo đài Điện Biên Phủ của Pháp nằm trong một thung lũng cách Hà Nội 270 km về phía tây. Đầu năm 1954, quân Pháp đã thả dù hơn 12.000 người xuống khu vực này. Không biết rằng Giáp đã có được 100 khẩu pháo 105 mm do Mỹ sản xuất, rằng ông ta đã dành ba tháng để triển khai 50.000 quân tại đây, và rằng Việt Minh đã kéo pháo lên các ngọn đồi phía trên thung lũng, quân Pháp hy vọng sẽ dụ tướng Giáp vào trận tại đó. (Họ không cần phải lo lắng về việc Giáp không giao chiến với họ.) Điều quan trọng không kém là trong số 13.000 quân Pháp, chỉ có một nửa đủ điều kiện chiến đấu, một thực tế bị giới lãnh đạo Pháp xem nhẹ vì sự kiêu ngạo và tự phụ của họ. Quân đội của Giáp đã bao vây quân Pháp bên trong pháo đài, và sau 55 ngày oanh tạc, số ít người sống sót đã đầu hàng Giáp, sau khi 4.000 người thiệt mạng và gần 8.000 người mất tích. Như vậy, Giáp trở thành vị tướng lĩnh đầu tiên đánh bại một đạo quân phương Tây hùng mạnh trên lục địa châu Á và được biết đến với biệt danh "Hổ Điện Biên Phủ".
Tại Geneva, Thụy Sĩ, vào tháng 7 năm 1954, Việt Nam và Pháp đã ký một thỏa thuận ngừng bắn chính thức. Đại diện các cường quốc thế giới cũng nhất trí rằng Việt Nam sẽ bị chia cắt theo vĩ tuyến 17, thành hai miền Bắc và Nam. Chính phủ Cộng sản của Hồ Chí Minh sẽ cai trị ở Bắc Việt Nam (chính thức gọi là Cộng hòa Dân chủ Việt Nam), trong khi Pháp sẽ có tiếng nói trong chính phủ Nam Việt Nam cho đến khi người dân Việt Nam tự quyết định vận mệnh của toàn đất nước thông qua cuộc bầu cử quốc gia năm 1956. Cuộc bầu cử đó chưa bao giờ được tổ chức, và dần dần Hoa Kỳ đã thay thế Pháp mệt mỏi trở thành cường quốc phương Tây ở Nam Việt Nam.
Tuyệt vọng vì không thể thống nhất Việt Nam bằng con đường hợp pháp, những người theo chủ nghĩa dân tộc ở miền Nam Việt Nam đã hoạt động bí mật và thành lập lực lượng du kích Việt Cộng, bắt đầu cuộc nổi dậy vũ trang chống lại chế độ Ngô Đình Diệm được Mỹ hậu thuẫn. Khi Việt Nam bị chia cắt vào tháng 7 năm 1954, tướng Giáp trở thành phó thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng và tổng tư lệnh tất cả các lực lượng vũ trang của Bắc Việt Nam. Ông bắt đầu viện trợ cho Việt Cộng, và Hoa Kỳ đáp lại bằng cách viện trợ cho Nam Việt Nam. Sự can thiệp lẫn nhau này đã leo thang thành chiến tranh toàn diện vào năm 1965. Giáp đã điều cả sư đoàn quân chính quy Bắc Việt Nam xuống miền Nam chiến đấu cùng với Việt Cộng và giao cho cộng sự của mình, tướng Nguyễn Chí Thanh, chỉ đạo các hoạt động ở miền Nam. Giáp và Thanh thường bất đồng về cách tiến hành chiến tranh, và khi Thanh tử trận năm 1967, Giáp đã trực tiếp chỉ huy các hoạt động quân sự của Cộng sản ở miền Nam.
Chiến dịch cao tay của Giáp năm 1968 là cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, trong đó ông đã khiến người Mỹ tin rằng ông đang lên kế hoạch cho một cuộc tấn công kiểu Điện Biên Phủ vào tiền đồn của Thủy quân lục chiến tại Khe Sanh. Sau đó, trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, khi người Mỹ đang tập trung vào Khe Sanh, Giáp đã phát động một cuộc tổng tấn công quy mô lớn vào các thành phố cũng như các cứ điểm quân sự và chính phủ trên khắp miền Nam Việt Nam với lực lượng Cộng sản hơn 36.000 quân. Mặc dù tổn thất của ông lên tới khoảng 15.000 người, nhưng động thái táo bạo của Giáp được coi là một chiến thắng về mặt tinh thần và tâm lý, chứng minh rằng Việt Cộng, với sự giúp đỡ của nông dân (điều mà Giáp đã ủng hộ trong nhiều năm), có thể tấn công tùy ý trên khắp miền Nam Việt Nam chống lại cường quốc quân sự mạnh nhất thế giới. Tổng tiến công Tết Mậu Thân cũng nhắc nhở thế giới về tài năng và ý chí kiên cường của Giáp. Chiến dịch lớn tiếp theo của Giáp, Tổng tiến công Nguyễn Huệ năm 1972 (được lực lượng Mỹ gọi là Tổng tiến công Phục Sinh), cũng gây ra thương vong lớn và thất bại trong việc thiết lập một căn cứ hoạt động an toàn ở miền Nam. Tướng Văn Tiến Dũng thay thế Giáp làm tổng tư lệnh vào năm 1974; Giáp vẫn giữ chức bộ trưởng quốc phòng và chỉ đạo chiến dịch cuối cùng để thống nhất đất nước.
Từ năm 1976 (khi hai miền Việt Nam thống nhất) đến năm 1980, Giáp tiếp tục giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam và được xác nhận là Phó Thủ tướng của nước Việt Nam thống nhất. Ông là Ủy viên chính thức của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến năm 1982, khi một cuộc đấu tranh quyền lực dẫn đến việc ông bị buộc phải nghỉ hưu. Nỗ lực khôi phục tư cách thành viên của ông vào năm 1986 đã thất bại.
Ông Giáp nay đã nghỉ hưu với quân hàm đại tướng. Ông được trao tặng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của Việt Nam; Huân chương Hồ Chí Minh, huân chương cao thứ hai của quốc gia; và Huân chương Chiến thắng. Năm 1991, ông được Hiệp hội nhà báo Việt Nam trao tặng giải thưởng ghi nhận những đóng góp của ông trong vai trò phóng viên và biên tập viên báo chí.
Năm 1995, Giáp gặp gỡ người đồng cấp Mỹ trong suốt phần lớn thời gian diễn ra Chiến tranh Việt Nam, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara. Ông McNamara đến Hà Nội để thúc đẩy một hội nghị quốc tế về cuộc chiến, mà ông tin rằng lẽ ra không bao giờ nên xảy ra. Cuộc gặp diễn ra thân mật, và Giáp đã đóng góp vào nỗ lực của ông McNamara bằng cách tiết lộ một sự thật quan trọng, vốn gây tranh cãi từ lâu: cuộc tấn công thứ hai của tàu chiến Việt Nam vào tàu chiến Mỹ ở Vịnh Bắc Bộ năm 1964 đã không hề xảy ra. Sự kiện này đã được Tổng thống Lyndon B. Johnson sử dụng để biện minh cho việc tăng cường quân sự ở miền Nam Việt Nam. Giáp qua đời ngày 4 tháng 10 năm 2013 tại Hà Nội.
Ý nghĩa
Trong suốt những năm tháng dài phục vụ trong quân đội, Giáp được xem là nhân vật không thể thiếu đối với sự nghiệp giành độc lập và thống nhất Việt Nam, ngay cả khi phải đối mặt với sự bất mãn từ một bộ phận người Việt Nam. Những thành công đã đưa ông lên vị trí anh hùng dân tộc chỉ sau Hồ Chí Minh, nhưng đồng thời cũng cho thấy sự tàn bạo khủng khiếp mà ông có khả năng gây ra. Năm 1969, ông thừa nhận rằng Bắc Việt Nam khi đó đã mất nửa triệu quân trong cuộc chiến chống lại Hoa Kỳ và chính quyền Nam Việt Nam, nhưng ông vẫn sẽ cho quân đội của mình tiếp tục chiến đấu thêm năm mươi năm nữa nếu cần thiết. Hai mươi lăm năm trước đó, khi dẫn quân giải phóng vào thung lũng Đinh Cá và thanh trừng các quan chức chính phủ cũng như nông dân giàu có, ông đã hiện thực hóa câu khẩu hiệu thường được ông lặp đi lặp lại: cứ mỗi phút lại có một trăm nghìn người chết trên khắp thế giới; sinh tử của con người chẳng có nghĩa lý gì.
Giáp được coi là nhà lãnh đạo quân sự hiện đại quan trọng nhất của Việt Nam, cả về lý thuyết và thực tiễn. Ông được công nhận rộng rãi là một chuyên gia và người thực hành xuất sắc về chiến tranh du kích hiện đại. Tài năng xuất chúng của Giáp với tư cách là một nhà chiến lược và chiến thuật quân sự không chỉ dẫn đến sự kết thúc của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam mà còn góp phần đẩy lùi quân Mỹ khỏi đất nước và dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975. Thiên tài của Giáp nằm ở khả năng diễn đạt và thực hiện mối quan hệ giữa hệ tư tưởng cộng sản và chiến lược quân sự. Ông đã có thể khích lệ một xã hội bảo thủ và biến một nhóm nông dân thành một đội quân có khả năng đánh bại các cường quốc thế giới.
Không thể phủ nhận rằng Giáp là người kiên định trong nhiệm vụ. Một sĩ quan kỳ cựu người Pháp trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất từng tóm tắt về vị tướng nhỏ bé này (ông chỉ cao 1,5 mét) một cách ngắn gọn khi nói rằng ông là một kẻ thù không khoan nhượng và sẽ theo đuổi đến cùng giấc mơ và số phận của mình. Giáp giống Napoleon hơn cả những gì người Pháp nhận ra.



