ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG HẢI PHÒNG
Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ xưa tới nay vẫn dành cho LLVT Hải Phòng một sự chăm sóc ân cần và một mối tình cảm đặc biệt. Từ trước và trong thời chống Mỹ, có lẽ do vị trí đặc biệt trong phòng thủ bờ biển của quốc gia, nên đã được Đại tướng - Tổng Tư lệnh săn sóc nhiều tới lực lượng vũ trang Hải Phòng. Sau đây, với tư cách là Tham mưu trưởng, sau là Tư lệnh BTL 350 (HP), đã nhiều lần tiếp xúc, tôi xin kể lại một số sự kiện qua một số bút tích và hình ảnh lịch sử hiện vẫn còn do bản thân tôi hoặc n
ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG HẢI PHÒNG
VÕ AN ĐÔNG (Nguyên Tư lệnh BTL 350)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ xưa tới nay vẫn dành cho LLVT Hải Phòng một sự chăm sóc ân cần và một mối tình cảm đặc biệt.
Từ trước và trong thời chống Mỹ, có lẽ do vị trí đặc biệt trong phòng thủ bờ biển của quốc gia, nên đã được Đại tướng - Tổng Tư lệnh săn sóc nhiều tới lực lượng vũ trang Hải Phòng. Sau đây, với tư cách là Tham mưu trưởng, sau là Tư lệnh BTL 350 (HP), đã nhiều lần tiếp xúc, tôi xin kể lại một số sự kiện qua một số bút tích và hình ảnh lịch sử hiện vẫn còn do bản thân tôi hoặc nhà truyền thống của BCHQS Hải Phòng còn lưu giữ được để nói lên sự quan tâm và tình cảm của Đại tướng đối với LLVT Hải Phòng.
Từ trước năm 1965, Đại tướng xem đại đội 6, tiểu đoàn 8, trung đoàn 50 tập chạy toàn đại đội rất nhanh và có kỷ luật nên Người đã khen ngợi: "Đại đội chạy nhanh như gió". Từ đó, cho đến cả ngày nay, đại đội được mệnh danh là "Đại đội gió" vẫn luôn giữ truyền thống thể dục, thể thao. Ngày 20-11-2001, sau khi trung đoàn 50 được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tướng lại đến thăm, nghe chỉ huy trung đoàn báo cáo tình hình đơn vị và tỏ ý khen ngợi trung đoàn từ thời chống Pháp và thời chống Mỹ đã lập nhiều chiến công, xứng đáng với danh hiệu Anh hùng mà Nhà nước vừa ban tặng.
Khoảng năm 1966, Hải Phòng bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt, đồng chí Đỗ Chính lúc đó là chính ủy BTL 350, đã hướng dẫn Đại tướng lên chòi cao để quan sát trận địa ở nội thành và nhận chỉ thị phải đánh trả máy bay địch và công tác phòng không nhân dân, giữ gìn tiềm lực của nhân dân và hết sức chi viện cho chiến trường miền Nam.
Trong 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ mở một trận tập kích chiến lược bằng không quân chủ yếu đánh vào Hà Nội và Hải Phòng, nhưng chúng đã bị thất bại rất nặng nề buộc phải ngừng ném bom vào ngày 30-12-1972, và đi đến ký kết Hiệp định Pa-ri vào ngày 27-1-1973.
Sau ngày 30-12-1972, Đại tướng đã về Hải Phòng để kiểm tra sẵn sàng chiến đấu. Đồng chí Đỗ Chính, chính ủy BTL 350, đã báo cáo trên bản đồ về kế hoạch và kết quả chiến đấu của lực lượng vũ trang trên địa bàn thành phố Bao cáo đại ý: Ngay từ khi bắt được tín hiệu địch sẽ bắn phá đêm 17-12 Ban quân sự Thành ủy đã hạ lệnh sơ tán khẩn cấp cho trên 10 vạn dân sơ tán ra khỏi nội thành và tất cả các lực lượng vũ trang phải ở tư thế sẵn sàng chiến đấu cao. Trong 12 ngày đêm, đêm và ngày nào địch cũng đánh phá (trừ đêm 25-12 là lễ Nôen), ác liệt nhất là đêm 19-12 và đêm 26-12-1972, chúng sử dụng cả máy bay B52 thả bom rải thảm trên đường 5, khu vực Thượng Lý, Sở Dầu và phố Trần Nguyên Hãn. Các lực lượng vũ trang của ta đã hiệp đồng chặt chẽ, bắn trả địch rất ròn rã, kết quả ta đã bắn rơi 17 máy bay (có 4 máy bay B52) trong tổng số 81 máy bay của cả Hà Nội và Hải Phòng trong suốt đợt và Hải Phòng đã bắt sống được một số giặc lái, đã kịp thời đưa giải lên Hà Nội trình diện tại cuộc họp báo có cả phóng viên nước ngoài, thiết thực góp vào cuộc đấu tranh ngoại giao, gắn chặt với đấu tranh quân sự. Về công tác phòng không nhân dân, thực hiện lệnh "sơ tán khẩn cấp" ngày 17-12, trước 1 ngày địch mở trận tập kích chiến lược công tác thông báo, báo động được kịp thòi đảm bảo cho cán bộ và dân sinh hoạt bình thường trong thòi chiến, công tác an ninh trật tự vẫn được duy trì tốt đẹp.
Về đảm bảo giao thông, thì nhờ có dự trữ từ trước các vật liệu cát, đá, sỏi nên ta đã san lấp các hố bom trên đường số 5, một thời gian vài hôm đã thông xe. Việc chống phong tỏa trên biển đã được lực lượng Hải quân, tự vệ của ngành đường biển và dân quân địa phương vẫn kiên trì rà phá thủy lôi, cơ bản đã thông luồng lạch, có thể đảm bảo tàu quốc tế ra vào Cảng sau khi ký hiệp định Pari.
Đại tướng tỏ ý khen ngợi quân dân Hải Phòng đã thiết thực hiệp đồng với Hà Nội, lập nên "Điện Biên Phủ trên không". Nhưng đồng chí cũng nhắc nhở miền Nam còn chưa được giải phóng nên miền Bắc trong đó có Hải Phòng còn phải lo chi viện đủ số lượng và chất lượng cho miền Nam. Đồng chí cũng chỉ thị một khi hiệp định Pari được ký kết thì Hải Phòng phải lo giải quyết hậu quả chiến tranh còn rất nặng nề và phải làm kinh tế kết hợp với quốc phòng đỡ gánh nặng cho đất nước.
Về Nhà khách thành phố, Đại tướng đã hội đàm với Bí thư Thành ủy là Trần Kiên. Ngoài việc chung ra, đồng chí Trần Kiên báo cáo một cách tự hào về sáng kiến lập ra Ban quân sự Thành ủy từ tháng 12-1965, do Bí thư Thành ủy trực tiếp làm trưởng ban. Ban quân sự Thành ủy về thực chất là cơ quan thường trực của Thành ủy về chỉ đạo chiến đấu và phục vụ chiến đấu, làm nhiệm vụ điều hòa và phối hợp với các đơn vị trên địa bàn. Ban quân sự đã phát huy tác phong rõ nhất trong đợt 12 ngày đêm vừa qua trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
Tiếp theo, Đại tướng đã cùng với BTL 350 xuống tại chân núi Cột Cờ (Kiến An) gặp mặt cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 14 pháo cao xạ, biểu dương đơn vị đã bắn rơi 2 máy bay Mỹ bảo vệ sân bay Kiến An, nhắc nhở đơn vị rằng miền Nam lúc đó còn chưa giải phóng, đơn vị phải sẫn sàng đợi lệnh đi chi viện chiến trường.
Sau đó, Đại tướng xuống tại trận địa pháo 100mm của trung đoản tự vệ Cảng Hải Phòng. Trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại, hỏa lực của tự vệ Cảng Hải Phòng đã hòa cùng lưới lửa phòng không của thành phố, bắn rơi nhiều máy bay, đặc biệt trong 12 ngày đêm năm 1972, pháo cao xạ 100mm đã hiệp đồng với hỏa lực tầm cao của sư đoàn 363 bắn rơi một máy bay B52. Ngoài ra, cán bộ, công nhân, tự vệ Cảng đã ngoan cường rà, phá thủy lôi. Về sau này được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình khoa học "phá thủy lôi và bom tứ trường, từ năm 1965 đến 1972" và được tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".
Đến nay, Đại tướng, tuy đã thôi giữ trọng trách trong Đảng, Nhà nước và quân đội, song ảnh hưởng và uy tín của Người vẫn còn sâu đậm trong quân và dân ta, đặc biệt là đối với cán bộ chiến sĩ đường 5 và Hải Phòng vẫn luôn kính trọng và trìu mến vẫn coi Đại tướng vẫn là "Người anh cả của quăn đội nhân dân" như những ngày nào. Vì thế, tháng 8 năm 1998, Ban biên tập sách "Đường 5 anh dũng quật khởi” đã vinh dự được gặp Đại tướng trong một căn nhà, được coi nhà bảo tàng riêng của Người, đã chứa đủ các bức trướng, những tấm ảnh, nhưng kỷ vật quý giá của các đơn vị và địa phương trong toàn quân gửi tặng. Ban biên tập kính tặng Đại tướng 4 tập đầu của sách "Đường 5 anh dũng quật khởi" được chụp ảnh chung với Đại tướng và nhận được lời hứa sẽ giới thiệu cho cuốn sách. Chỉ một tháng sau chúng tôi đã nhận được lời giới thiệu, xin trích đăng - toàn văn lời giới thiệu đó đã được đăng trên trang đầu của tập 5 của tập: "Đường 5 anh dũng quật khởi" xuất bản năm 1998: "Đường 5 đã được Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh tuyên dương là "mặt trận điền hình nhất đánh vào địch hậu". Những bài học kinh nghiệm chiến đấu của quân dân đường 5 có giá trị vô cùng quý báu. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chiến trường đường 5 trải dải trên một diện rộng, đã diễn ra nhiều trận đánh giỏi, nhiều gương chiến đấu ngoan cường, dũng cám, nhiều, cách đánh địch mưu trí táo bạo... chưa được ghi lại. Những nhân chứng sống của thời đánh Pháp ở địa phương thưa vắng dần, cần kịp thời có kế hoạch khẩn trương khai thác. Tôi hoan nghênh các cán bộ quân đội từng giữ những cương vị lãnh đạo, chí huy các lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống Pháp ở địa phương nay đã nghỉ hưu, đứng ra tổ chức biên soạn bộ sách nhiều tập nói về cuộc chiến đấu ở đường 5".
Tháng 9-1998, sau khi Hội khoa học lịch sử và Chi hội LSQS Hải Phòng tổ chức cuộc sinh hoạt sử về "chống Mỹ phong tỏa sông, biển vùng Hải Phòng" định ra một tập kỷ yếu, báo cáo với Đại tướng được Đại tướng tán thành và tư viết có chữ ký của Người lời giới thiệu in trên trang đầu của cuốn kỷ yếu nhan đề là "Chống Mỹ phong tỏa sông biển vùng Hải Phòng". Xin trích đoạn lời giới thiệu đó để ta thấy tầm nhìn chiến lược của một lãnh đạo quân đội sâu sắc như thế nào: "Chiến công đánh bại cuộc phong tỏa đường biển, đường sông của đế quốc Mỹ tại Cảng Hải Phòng và vùng phụ cận biểu thị quyết tấm lớn và đầy mưu trí sáng tạo của quân và dân ta, là một công hiến vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, lại có ý nghĩa làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự của ta trên chiến trường sông biển. Ý nghĩa ấy càng có tầm quan trọng trong khi quân uà dãn ta đang đứng trước nhiệm vụ chiến lược bảo vệ chủ quyền đất nước trên hàng nghìn cây số bờ biển và trên vùng biển bao la trong đó có hàng nghìn đảo và quần đảo, có quần đảo Vạn lý Trường Sa"...
Ngày 6-8-1998, nhân dịp Ban liên lạc nghĩa quân chiến khu Trần Hưng Đạo tổ chức kỷ niệm 53 năm ngày thành lập chiến khu và 90 năm ngày sinh của Trung tướng Nguyễn Bình, Đại tướng viết thư, có đoạn: "... Tôi cũng mong các đồng chí tập hợp được những tư liệu lịch sử về Trung tướng Nguyễn Bình, người đã có cống hiến xứng đáng không những với chiến khu (Trần Hưng Đạo) mà cả về sau này với cuộc kháng chiến Nam Bộ trên cương vị Tư lệnh chiến trường Nam Bộ...".
Ngày 11-4-2000 (sau 1 tháng Bộ Quốc phòng tổ chức) Thành ủy, UBND thành phố Hải Phòng cũng làm lễ tưởng niệm liệt sĩ Trung tướng Nguyễn Bình và làm lễ trao tặng pho tượng Nguyễn Bình cho Bảo tàng Hải Phòng. (Trước đó, Hội khoa học lịch sử còn trao tặng tượng Nguyễn Bình cho đình Kiền Bái (Thủy Nguyên, Hải Phòng) và cho chùa Bắc Mã (Đông Triều, Quảng Ninh). Quân dân Hải Phòng thực hiện lời nhắc nhở của Đại tướng là tập hợp những tư liệu lịch sử về Nguyễn Bình thì qua 8 tập của bộ sách "Đường 5 anh dũng quật khởi" riêng năm 2001, đã có 9 tác giả mô tả về chiến khu và Nguyễn Bình. Các bài trên tuy không thành một thể thống nhất, nhưng là nguồn tư liệu lịch sử quý hiếm về Nguyễn Bình và chiến khu.
Tết năm 1999, các chiến sĩ cũ của E42 tới chúc Tết tại nhà riêng của Đại tướng. Bản thân tôi (Võ An Đông) đã có thời làm trung đoàn trưởng E42, được cử ra phát biểu. Không hiểu sao, tuy bản thân đã nhiều lần gặp tiếp xúc, nhưng lần đó thấy không khí ấm cúng lạ thường, lại thấy Đại tướng bình tĩnh khoan thai rất mực, mà bản thân thấy thương mên Đại tướng đến cực độ, sinh ra xúc động trong lòng không nói hết lời đã chuẩn bị từ trước, mà chỉ nghẹn ngào, lắp bắp nói một câu: "Thưa Đại tướng, trước đây cũng như về sau này, dù tình huống thế nào, chúng tôi, các chiến sĩ của Trung đoàn 42 lúc nào cùng coi Đại tướng là người Anh Cả của quân đội, của chúng tôi".
Sau khi trò chuyện thân mật, ra ngoài sân, tôi đã được vinh dự chụp chung với Đại tướng một bức ảnh mà đến nay vẫn treo ở nhà, coi đó là một tình cảm bao la của Đại tướng đối với cá nhân tôi.
Tiếp sau đoàn của E42, các đoàn của trung đoàn 50, của đoàn 151 điều trị thương bệnh binh (đều là đơn vị cũ của BTL Hải Phòng) cũng được vinh dự tới gặp chúc mửng Đại tướng. Sau đó mọi người đều hân hoan, giữ được những ấn tượng tốt đẹp.
Ngày 24-7-2002, Đại tướng đã đến thăm hợp tác xã Bạch Đằng của anh Trịnh Trọng Giữ, vốn là bộ đội, nay chuyển ngành về nhà làm chủ nhiệm. Năm 2001, Hợp tác xã và cá nhân anh Giữ làm kinh tế giỏi nên đã được Chính phủ tặng bằng khen vì: "Đã có nhiều thành tích thực hiện nhiệm vụ kinh tế từ năm 1999 đến năm 2001, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”. Đại tướng nghe kỹ báo cáo, rồi nhắc nhở "Anh em tự hào ưới thành tích lớn nhưng không mảy may tự mãn!".
Ngày 24-7-2002, đánh dấu ngày Đại tướng về thăm là ngày đáng nhớ đối với toàn thể HTX (ảnh trên bìa).
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị tướng lĩnh cao cấp, dưới sự chỉ đạo của Bác Hồ và Bộ Chính trị, đã góp phần tạo nên những bước ngoặt của chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, người cộng tác gần gũi với Võ Nguyên Giáp ngay từ thuờ mới sơ khai sinh ra QĐND đã trả lời phỏng vấn bài báo nhan đề là "Võ Nguyên Giáp vẫn là Tổng Tư lệnh thân yêu những ngày nào”1 (Toàn văn bài phỏng vấn đã đăng trên tập 12 "Đường 5 anh dũng quật khởi") đánh giá là: "... Tuy nhiên, tôi vẫn nói được rằng Võ Nguyên Giáp là một trong những nhân vật lớn của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Riêng trên lĩnh vực quân sự Võ Nguyên Giáp là nhân vật nổi bật ở hàng đầu trong phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta và có thể, trên toàn thế giới”.
Cuối cùng, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã kết luận: "Anh Văn (Võ Nguyên Giáp) đúng là một con người có bản lĩnh, bản lĩnh lớn bởi vì anh đã bình tĩnh và bình tĩnh vượt qua những năm tháng sóng to gió lớn của cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng và chính cuộc đời mình.


