ĐẮK TÔ - TÂN CẢNH 1972 - SƯ ĐOÀN 22 BỘ BINH VNCH BỊ XÓA SỔ NHƯ THẾ NÀO
ĐẮK TÔ - TÂN CẢNH 1972 - SƯ ĐOÀN 22 BỘ BINH VNCH BỊ XÓA SỔ NHƯ THẾ NÀO
Năm 1972 Bộ Chính Trị VNDCCH quyết định mở cuộc tấn công chiến lược xuân hè trên toàn miền Nam, trong đó cùng với Quảng Trị, An Lộc thì Bắc Tây Nguyên được chọn là một trong ba chiến trường chính.
Nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh giao cho Mặt trận Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 là: "Tiêu diệt địch, giải phóng Đắc Tô – Tân cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum, hướng phát triển có thể là hướng Plei- ku. mở rộng vùng giải phóng ra tây Plei- ku, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh, nối liền với căn cứ miền Đông Nam Bộ". Sư đoàn 2 được tăng cường Trung đoàn 66 và các bộ phận binh khí kỹ thuật có nhiệm vụ tiêu diệt cụm phòng ngự của sư đoàn 22 (thiếu) ở Đắc Tô - Tân Cảnh. Tiếp theo, phối hợp với các đơn vị tiêu diệt lực lượng dự bị của quân đoàn 2 và dự bị chiến lược địch đến ứng cứu, giải phóng tỉnh Kon Tum (bao gồm cả thị xã). Trong buổi nhận nhiệm vụ, trước Bộ Tư lệnh chiến dịch do Thượng tướng Hoàng Minh Thảo - Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên trực tiếp làm Tư lệnh chiến dịch, Tướng Nguyễn Chơn được giao nhiệm vụ chỉ huy Sư đoàn 2 tấn công trên hướng chủ yếu. Một thế trận được thảo luận kỹ ở các cấp chiến dịch và chiến thuật gồm các bước như sau: 1. Tổ chức đánh chia cắt địch giữa Pleiku và Kon Tum buộc địch phải phân tán lực lượng ra đối phó khắp Tây Nguyên. 2. Nhử cho địch ra khỏi Kon Tum để ta tiêu diệt một bộ phận và kìm giữ lại làm cho địch ở Đắc Tô - Tân Cảnh bị sơ hở, tạo ra yếu tố bất ngờ để đánh Đắc Tô - Tân Cảnh được thuận lợi. 3. Tổ chức cắt tuyến tiếp tế hậu cần chiến lược của địch từ Quy Nhơn lên Tây Nguyên trên quốc lộ 19.**Cụm phòng ngư Đăk Tô - Tân Cảnh nằm trong hệ thống phòng ngự Kon Tum là một cụm phòng ngư mạnh dọc theo đường 14, cách Kon Tum 37 cây số về hướng bắc - tây bắc. Thị trấn Tân Cảnh nằm trên ngã ba quốc lộ 17 và 18. Cách Tân Cảnh theo đường 14 khoảng 3 cây số về hướng tây là quận ly Đăk Tô (Đăk Tô l). Cách Tân Cảnh theo đường 18 khoảng 4 cây số là căn cứ Phượng Hoàng (Đăk Tô 2). Cách Đăk Tô 2 khoảng 2 cây số là căn cứ Plei- cần, giữ vị trí đầu cầu của cụm phòng ngự. Trấn giữ Đăk Tô - Tân Cảnh là sư đoàn 22 bộ binh VNCH do Đại tá Lê Đức Đạt làm tư lệnh, trong đó đóng giữ thị trấn Tân Cảnh là trung đoàn 42 và bộ chỉ huy tiền phương sư đoàn 22, đóng giữ Đăk Tô 1 và các ấp chiến lược chung quanh là 6 đại đội bảo an, đóng giữ Đăk Tô 2 là trung đoàn 47. Tổng quân số của trên cụm phòng ngự này gồm 13 tiểu đoàn bộ binh, 6 đại đội bảo an, 1 trung đoàn xe tăng M41, M48, 1 trung đoàn pháo binh. Ngoài ra, còn có lực lượng dự bị như sư đoàn dù, liên đoàn biệt động quân sẵn sàng tham chiến khi cần thiết. Yểm trợ hỏa lực cho sư đoàn 22 về đường không là sư đoàn 6 không quân và các phi đội không quân Mỹ đóng ở sân bay Plei- ku, về pháo binh là 2 trận địa pháo ở các điểm cao 1338 và 1001. Với lực lượng phía VNCH như vậy, Nguyễn Chơn hiểu rằng đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, vì lực lượng phòng ngự của đối phương là một lực lượng mạnh, bố trí ở điểm cao có công sự kiên cố, lại được chi viện tối đa bởi hỏa lực của phi pháo và xe tăng, thiết giáp và được chỉ huy bởi viên Đại tá trẻ nhưng cũng vô cùng tài năng và dày dạn trận mạc. Tuy nhiên, với tướng Chơn, kẻ địch càng mạnh, thì chiến thắng càng vẻ vang, cho nên anh thường nói: rất "mê" những trận đánh lớn, càng đánh lớn càng "mê". Vì vậy, anh được cấp trên và đồng đội tặng cho danh hiệu là "Người hùng say mê đánh giặc". Để giúp Sư đoàn 2 hoàn thành khó khăn này, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (B3) quyết định tăng cường 3 trung đoàn 66, 24 và 28 cùng một số đơn vị xe tăng, pháo binh, đặc công, công binh... thuộc Mặt trận về phối thuộc tác chiến trong đội hình Sư đoàn. Đồng thời, Mặt trận B3 sử dụng Sư đoàn 320 cùng phối hợp trong đội hình chiến dịch nhằm các mục đích: chia cắt quân địch ở Kon Tum và Plei- ku, buộc địch phải phân tán lực lượng ra ứng phó trên khắp chiến trường bắc Tây Nguyên; cắt tuyến tiếp tế hậu cần của địch từ Quy Nhơn lên Tây Nguyên; nhử một bộ phận quân địch ra khỏi Kon Tum để tiêu diệt, tạo điều kiện cho Sư đoàn 2 tấn công tiêu diệt. Trước đó, từ giữa tháng 2 năm 1972, Bộ Tư lệnh Mặt trận đã cho mở 2 con đường cơ giới, trong đó có con đường chiến lược 50K dài 200 cây số từ tây sông Pô Cô sang phía đông quốc lộ 14 để đưa các loại xe cơ giới, xe tăng, pháo mặt đất, pháo phòng không... tham gia chiến dịch. Thực hiện nhiệm vụ hợp đồng tác chiến, những ngày cuối tháng 3, Trung đoàn 28 thuộc Mặt trận B3 đã cắt đường 14, hình thành chốt chặn ở Chư Thoai, cắt đứt đường tiếp tế của địch từ Plei- ku đi Kon Tum. Tiếp đó một ngày tháng 4, Trung đoàn 95 thuộc Mặt trận B3 cắt đường 19, hình thành chốt chặn đông An Khê, cắt đứt đường tiếp tế từ Quy Nhơn lên Tây Nguyên. Cùng ngày, bộ phận chủ lực của Sư đoàn 320 đã nổ súng tấn công và đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 2 Nhảy Dù, đơn vị có nhiệm vụ chốt giữ tuyến phòng ngư dự phòng dài 20 cây số từ Ngã Ba Biên đến Chư Gơ Tông. Trước tình hình đó, tướng Ngô Du - Tư lệnh quân đoàn 2 VNCH buộc phải đưa lữ đoàn 3 dù ra trấn giữ tuyến phòng ngự phía tây sông Pô Cô. Lữ đoàn này lại bị Sư đoàn 320 đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, buộc phải lui về giữ tuyến phòng ngự cơ bản từ Võ Định đến thị xã. Thừa thắng, một bộ phận Sư đoàn 320 vượt sông Pô Cô, cùng Trung đoàn 28 cắt đứt đường 14, đoạn giữa Kon Tum và Đăk Tô - Tân Cảnh.Trong lúc đó, các đơn vị thuộc Sư đoàn 2 đã bí mật chiếm lĩnh trận địa và triển khai đội hình chiến đấu. Do thời gian chuẩn bị cập rập, không có cơ sở hậu cần tại chỗ, nên mọi nhu cầu đều phải dựa vào các kho Mặt trận B3, mà các kho trạm này lại đang thiếu hụt, nên cả Sư đoàn gặp rất nhiều khó khăn về lương thực, thực phẩm. Khẩu phần gạo chỉ còn 200 gam cho một ngày. Ngay cả muối cũng thiếu. Các đơn vị phục vụ thường phải nhường phần cho các đơn vị chiến đấu. Lúc đó Bộ Tư lệnh B3 quyết định cấp 200 tấn gạo cho Sư đoàn 2 để đủ sức chiến đấu, nhưng thực tế hoàn toàn không có, vì lượng gạo dự trữ trong kho của Mặt trận cũng đã cạn. Tình hình đó thôi thúc Nguyễn Chơn phải đánh gấp, một mặt để tiêu diệt địch theo nhiệm vụ, mặt khác để lấy lương thực cho bộ đội. Tuy vậy, anh biết rằng đánh vào một cụm phòng ngư do cả một sư đoàn địch trấn thủ là một việc không đơn giản, không thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà phải có một thời gian nhất định. Sau khi nghiên cứu chiến trường, Nguyễn Chơn vạch ra phương án đánh tiêu diệt Đăk Tô - Tân Cảnh bằng 2 bước: Bước 1, tìm cách đánh phá vào "4 điểm mạnh' của địch là công sự, xe tăng, pháo binh và không quân nhằm từng bước phá hủy, tiêu hao một phần sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đập tan chỗ dựa tinh thần của quân ngụy. Hướng tấn công chủ yếu của bước 1 để nghi binh là các căn cứ ở hướng tây như Plei- cần, Đăk Mốt, nhưng thực chất là đánh vào sau lưng địch, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện bước 2 là bước dồn toàn bộ sức mạnh để tiến công dứt điểm cụm phòng ngự. Ngày 2 tháng 4, Nguyễn Chơn lệnh cho các đơn vị làm nhiệm vụ bước 1 bí mật chiếm lĩnh trận địa. Ngày 3 tháng 4, vào lúc 1 giờ sáng, một đơn vị đặc công Sư đoàn bất ngờ tập kích sở chỉ huy trung đoàn 47 VNCH tại Đăk Tô 2, phá hủy 2 đại bác, 2 xe tăng, diệt trên 80 binh sĩ VNCH. Cùng thời điểm đó, đặc công Trung đoàn 1 tập kích diệt gọn đơn vị QLVNCH chốt giữ ấp Tam Bôi. Việc Đăk Tô 2 bị tập kích và ấp Tam Bôi bị tiêu diệt cùng với những tin tức tình báo về con đường 50K đang vươn dài đến bắc Tân Cảnh đã làm Đại tá Lê Đức Đạt - Tư lệnh sư đoàn 22 bộ binh VNCH nhận ra nguy cơ bị tấn công bởi các đơn vị bộ đội chủ lực QGP. Để đề phòng các cuộc tấn công của QGP và cũng để đẩy lùi sức ép của QGPMN ra xa Tân Cảnh, ngày 9 tháng 4, Lê Đức Đạt cho trung đoàn 47 đổ quân xuống Ngọc Tụ và các điểm cao 810, 812, 750, cách Đăk Tô 2 khoảng 7 cây số về hướng tây bắc. Khu vực điểm cao này có tác dụng như một bức trường thành che chắn cho Tân Cảnh, nên không lọt khỏi tầm nhìn của Nguyễn Chơn. Ông nhận định rằng, nếu bị vây ép mạnh, thế nào địch cũng bung quân ra chiếm giữ dãy điểm cao này, cho nên từ trước khi địch đổ quân, Ông đã lệnh cho Trung đoàn 1 và Trung đoàn 141 đến chiếm giữ các vị trí then chốt trên các điểm cao. Khi địch vừa đổ quân xuống, chưa kịp ổn định đội hình, thì ngay lập tức đã bị các chiến sĩ bộ binh Trung đoàn 1 nổ súng đánh phủ đầu Bộ phận chỉ huy tiểu đoàn 4 VNCH bị đánh tan tác. Tuy vậy do điểm cao có nhiều hang đá, nên phía VNCH đã dựa vào đó chống trả quyết liệt, đồng thời gọi máy bay đến đánh bom. Hàng chục chiếc máy bay phản lực và trực thăng ào lên quần lượn ném bom và rốc- két vào các vị trí mà bộ đội đang chiếm lĩnh. Trong lúc đó, B52 tập trung thả bom hủy diệt vòng ngoài. Dưới làn mưa bom, đạn của địch, Trung đoàn 1 xốc lại đội hình, quyết tâm tiêu diệt dứt điểm tiểu đoàn 4 VNCH đang co cụm ở phía bắc điểm cao. Các chiến sĩ phòng không QGP dũng cảm bám đánh từng chiếc phi cơ địch, không cho chúng thực hiện ý đồ ném bom chi viện. Các chiến sĩ bộ binh vận động qua các hang đá, tiêu diệt từng bộ phận quân địch. Do bị thiệt hại nặng, cuối cùng tàn quân VNCH ở phía bắc đành phải bỏ điểm cao tháo chạy thoát thân vào những cánh rừng già. Số quân VNCH thuộc tiểu đoàn 147 ở phía nam điểm cao không còn chỗ dựa cũng tháo chạy. Hai tiểu đoàn 1 và 4 VNCH cơ bản bị tiêu diệt. Trong lúc đó, tại các điểm cao 810, 812, 750, các chiến sĩ Trung đoàn 141 đã chủ động đánh địch ngay từ đầu, tiêu diệt đại bộ phận tiểu đoàn 3 VNCH khi đơn vị này vừa đổ quân xuống.Mất dãy điểm cao ở hướng tây bắc, Đăk Tô - Tân Cảnh bị uy hiếp nghiêm trọng. Hai đường 14 và 19 vẫn bị cắt đứt dự trữ vật chất ngày càng cạn kiệt. Trong lúc đó tình hình chung ngày càng tồi tệ, sư đoàn 23 bị kẹt cứng trong nhiệm vụ bảo vệ Plei- ku và giải tỏa đường 14. Sư đoàn dù (thiếu) từ Sài Gòn ra cứu nguy, cũng bị đánh tan tác ở các điểm cao 1015, 1049, phải lùi về giữ nhiệm vụ phòng thủ Kon Tum. Trung đoàn còn lại của sư đoàn 22 là 40 cũng bị giam chân ở Hoài ân - Bình Định. Tuy trận tiến công của Sư đoàn 2 chưa nổ ra, nhưng cả 3 sư đoàn VNCH trên Mặt trận Tây Nguyên đều đã sa lầy vào những thế trận do Bộ Tư lệnh chiến dịch của QGP cài sẵn. Trong tay tướng Ngô Du và Trung tá Vann Paul -cố vấn quân sự cho tư lệnh quân đoàn 2 VNCH, không còn một đơn vị dự bị cỡ trung đoàn nào. Để cứu vãn tình thế, ngày 17 tháng 4, Ngô Du cho tiểu đoàn 9 dù đổ quân đánh chiếm lại Ngọc Tụ. Tiểu đoàn này lập tức bị các chiến sĩ Trung đoàn 1 bám đánh, phải rời khỏi Ngọc Tụ di chuyển xuống phía nam. Ngày 19 tháng 4, một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 42 ngụy nống ra chiếm dãy đồi tranh phía bắc Tân Cảnh, một vị trí có lợi cho việc phòng thủ. Ngày 22 tháng 4, Đại tá Lê Đức Đạt sử dụng 1 cánh quân từ phía Diên Bình lên phối hợp với một cánh quân từ Tân Cảnh ra, tổ chức đánh chiếm lại dãy đồi tranh. Theo lệnh của tướng Nguyễn Chơn, Trung đoàn 66 phối hợp cùng với Trung đoàn 141 bẻ gãy cuộc tấn công này, buộc địch phải rút về căn cứ. Thấy cánh quân lớn đã thất bại, tiểu đoàn 9 dù đang ở nam Ngọc Tụ cũng tìm cách thoái về căn cứ. Bước thứ nhất trong kế hoạch tác chiến của Nguyễn Chơn cơ bản đã kết thúc. Các lực lượng vòng ngoài của VNCH đã được "dọn dẹp" sạch sẽ. Vòng vây quanh cụm phòng ngự đang từ từ siết chặt, sự tồn tại của nó đang tính từng ngày. Theo kế hoạch của Bộ Tư lệnh chiến dịch, thời gian để tiêu diệt dứt điểm Đăk Tô - Tân Cảnh là 7 ngày. Nhưng sau khi nghiên cứu, Nguyễn Chơn đề ra một thời hạn là 24 giờ, với điều kiện là toàn bộ cơ số đạn sử dụng trong 7 ngày đó phải giao hết cho Sư đoàn 2 trước khi diễn ra trận đánh. Các đồng chí chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên hết sức bất ngờ, nhưng vốn tin tưởng vào tài trí, và sự mưu lược của Nguyễn Chơn, nên đề xuất của anh đã được chấp nhận. Vào thời điểm này, con đường cơ giới 50K đã hoàn thành, sẵn sàng đưa xe tăng và pháo binh vào tham chiến. Tuy vậy, để đánh lạc hướng địch, con đường được ngụy trang như chưa làm xong. Mọi công việc chuẩn bị cho một trận đánh lớn đã hoàn tất. Nguyễn Chơn theo sát các cánh quân đang bí mật bao vây cụm phòng ngư. Bước chân Ông đi về như con thoi giữa Sở chỉ huy cơ bản và Đăk Tô 2 - Tân Cảnh... Ông táo bạo chọn mũi tấn công quyết định là sở chỉ huy Sư đoàn 22 VNCH. Đây là một cứ điểm nằm trong căn cứ Tân Cảnh, nhưng hơi lùi về phía đông, nơi có dãy Ngọc Linh cao hơn 2.000m nằm chắn phía sau như một bức trường thành thiên nhiên. Hệ thống phòng ngự của VNCH tại đây tương đối yếu hơn các nơi khác, vì phía VNCH đinh ninh rằng dãy Ngọc Linh quá cao, bộ đội chủ lực QGP với xe tăng, đại bác... không thể nào vượt qua được, có chăng là các hoạt động lẻ tẻ của các đội công tác và du kích. Dựa vào sự sơ hở này, tướng Chơn quyết định sử dụng Trung đoàn 66, một bộ phận xe tăng và Tiểu đoàn 37 đặc công mở ở đây một đột phá khẩu để tấn công vào yết hầu QLVNCH, từ đó phát triển ra các nơi khác. Sau lưng căn cứ này là khu gia binh gồm toàn bộ gia đình sĩ quan, binh sĩ VNCH, nên phòng thủ khá chủ quan, lơi lỏng. Nguyễn Chơn chủ trương đưa đội hình tấn công chủ yếu của bộ binh, xe tăng đánh mạnh vào sau lưng địch, từ đó đánh thẳng ra phía trước, tiêu diệt toàn bộ căn cứ Tân Cảnh. Một khi Tân Cảnh bị tiêu diệt, thì quận lỵ Đăk Tô sẽ tự động tan rã. Một ngày trước khi nổ ra cuộc tấn công quyết định, Nguyễn Chơn nhận được điện thoại của Nguyễn Huy Chương - Chính ủy Sư đoàn, báo tin đã từ miền Bắc vào đến Sở chỉ huy cơ bản. Nguyễn Chơn trao đổi với Nguyễn Huy Chương một số công việc rồi thông báo: - Hôm bắm mình tống cân (Hăm bốn mình tấn công - nói lái theo kiểu Quảng Nam). - Hôm bắm mình làm ăn có tốt không? - Nguyễn Huy Chương hỏi lại. - Anh yên tâm, chắc ăn mười mươi. Nguyễn Chơn trả lời chắc nịch. Chiều 22 tháng 4, Mặt trận Đăk Tô - Tân Cảnh vẫn hoàn toàn yên tĩnh. Không có dấu hiệu gì cho thấy là một cuộc tấn công quy mô lớn sắp diễn ra chỉ trong ít giờ tới. Trong khi đó, chung quanh cụm phòng ngự, một cuộc điều quân lớn đang âm thầm diễn ra. Theo lệnh của tướng Nguyễn Chơn, các đơn vị pháo binh bắt đầu kéo pháo vào trận địa, các đơn vị công binh áp sát các hàng rào, sẵn sàng mở cửa. Các trung đoàn bộ binh chiếm lĩnh các vị trí chiến đấu. Ngoài Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 37 đặc công được giao nhiệm vụ phối hợp với bộ đội xe tăng tiêu diệt căn cứ Tân Cảnh, các trung đoàn còn lại gồm Trung đoàn 1 được giao nhiệm vụ tiêu diệt Đăk Tô 2, Trung đoàn 141 chặn cầu Diên Bình, Trung đoàn 28 đánh vào Võ Định, Trung đoàn 24 chốt giữ bờ tây sông Pô Cô để chặn đường rút lui của QLVNCH. Đội hình xe tăng được lệnh vượt qua sông Pô Cô, theo đường 50K tiến về Đăk Tô 1, cách 5 cây số thì dừng lại chờ lệnh mới. Tất cả đã sẵn sàng, chỉ chờ đến giờ G là khai hỏa. 3 giờ 30 phút ngày 23 tháng 4, trong lúc quân phòng thủ VNCH đang còn ngủ say, thì các trận địa pháo bắt đầu dội lửa vào Tân Cảnh. Cả cứ điểm rung chuyển bởi hàng loạt tiếng nổ dữ dội của D74, ĐKZ 75, đại bác 85 ly, đại pháo 122 ly, tên lửa điều khiển từ xa... Trong lúc pháo binh tập trung bắn nát từng lô cốt, thì các chiến sĩ công binh sư đoàn dùng mìn DH10, DH20, bộc phá... cho nổ tung các lớp rào, các bãi mìn để mở đường cho xe tăng xung phong. Trong khói lửa mờ mịt, bộ đội Trung đoàn 66, Tiểu đoàn 37 đặc công băng qua các cửa mở, đánh thẳng vào sở chỉ huy sư đoàn 22. Trước đó, đội hình xe tăng đã băng qua Đăk Tô 1, chỉ sử dụng 2 chiếc bắn uy hiếp vào quận ly, còn tất cả tiến thẳng về Tân Cảnh. Lúc bộ đội công binh phá xong các lớp rào, thì cũng là lúc đội hình xe tăng vừa đến nơi, kịp thời cùng các chiến sĩ bộ binh xung phong vào căn cứ. 4 giờ 30 phút ngày 23 tháng 4, đội hình xe tăng cùng bộ đội Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 hợp thành một lưỡi dao nhọn phóng xuyên qua khu gia binh, đánh thẳng vào sở chỉ huy sư đoàn 22, sở chỉ huy trung đoàn 42 và trận địa pháo của QLVNCH. Ở phía tây bắc căn cứ, Tiểu đoàn 8 sau khi vượt qua cửa mở đã đánh thẳng vào khu cố vấn Mỹ, một bộ phận đánh dọc về phía tháp nước, phối hợp cùng Tiểu đoàn 7 hình thành 2 gọng kìm từ từ siết chặt vào bộ chỉ huy đầu não của sư đoàn 22 bộ binh. Ở phía tây, các chiến sĩ đặc công phối hợp cùng với bộ đội xe tăng hình thành một quả đấm thép đấm mạnh vào mạn sườn. Phía QLVNCH chống trả quyết liệt, Đại tá Đạt gấp gáp điện về Bộ tư lệnh Quân đoàn yêu cầu Không quân và B-52 chi viện, nhưng vì ông không được lòng cố vấn Vann Paul nên bị Paul lấy cớ từ chối, Vann Paul chỉ cho trực thăng đến đón cố vấn Mỹ ở sư đoàn 22 bộ binh dời khỏi căn cứ - khi viên Đại tá cố vấn sư đoàn yêu cầu Đại tá Đạt di tản cùng mình tuy nhiên Đại tá Đạt từ chối di tản, ở lại căn cứ cùng sống chết chiến đấu cùng binh sĩ thuộc cấp của ông. Hai bên giành nhau từng căn nhà, từng tuyến công sự. Binh sĩ VNCH dựa vào các hầm ngầm, dùng hơi ngạt, hơi cay bắn vào đội hình bộ đội nhằm ngăn chặn bước tiến, nhưng các chiến sĩ QGP đã chuẩn bị sẵn dùng khăn mặt, khẩu trang thấm nước bịt miệng, mũi, tiếp tục chiến đấu. Để tăng cường uy lực tấn công, tướng Chơn quyết định tung lực lượng dự bị là Tiểu đoàn 40 Trung đoàn 1 vào trận đánh. 6 giờ 30 phút ngày 24 tháng 4, phần lớn các mục tiêu trong căn cứ đã được chiếm lĩnh, nhưng vì căn cứ quá rộng, các mũi tấn công lại phát triển nhanh, nên chưa phát hiện được hầm ngầm của bộ chỉ huy đầu não đối phương. Lợi dụng cảnh khói lửa mịt mù, Lê Đức Đạt cùng các sĩ quan thân cận liều chết mở đường máu chạy khỏi căn cứ phía bắc. Qua sóng truyền tin, bộ phận điện đài kỹ thuật thu được bức điện của Lê Đức Đạt xin Ngô Du cho trực thăng đến cứu bộ chỉ huy sư đoàn 22 tại nghĩa trang thị trấn. Lập tức, Sư đoàn phó Dương Bá Lợi liền cắt một cánh quân thuộc Tiểu đoàn 40 rượt theo truy sát. Đến nghĩa trang, các chiến sĩ Tiểu đoàn 40 hình thành thế bao vây gọi hàng. Tàn quân VNCH nhất quyết dựa vào mồ mả tổ chức chống cự, nhưng nhanh chóng bị tiêu diệt. Lê Đức Đạt cùng một số sĩ quan bị bắn chết tại chỗ khi cố tìm cách mở đường máu chạy ra khỏi nghĩa trang. Vi Văn Bình - Đại tá Tư lệnh phó cùng 6 trung tá, 2 thiếu tá và trên 100 sĩ quan, binh lính bị bắt. Không còn người chỉ huy, số sĩ quan chỉ huy VNCH còn lại trong căn cứ như rắn mất đầu lần lượt kéo nhau ra hàng. 9 giờ 15 phút ngày 24 tháng 4, lá cờ chiến thắng của Sư đoàn 2 tung bay trên cột cờ bộ tư lệnh sư đoàn 22 VNCH. căn cứ Tân Cảnh - mắt xích chủ yếu của cụm phòng ngự bắc Kon Tum đã bị xóa sổ. Cùng lúc với trận đánh ở Tân Cảnh, các chiến sĩ Trung đoàn 1 cùng với các chiến sĩ đặc công Sư đoàn 2 mở các đợt tấn công vào căn cứ Đăk Tô 2 do trung đoàn 47 VNCH đóng giữ. Trước đó, các trận địa pháo sau khi làm xong nhiệm vụ bắn mở đường vào Tân Cảnh đã quay nòng ra bắn vào Đăk Tô 2, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong chiếm lĩnh mục tiêu. Thấy hỏa lực và sức tiến công của quân GPMN quá mạnh, Trung đoàn trưởng trung đoàn 47 VNCH dùng kế trá hàng để kéo dài thời gian củng cố lại hầm hào chiến đấu, nhưng âm mưu này đã bị tướng Nguyễn Chơn phát hiện khi Ông đang đứng trên một điểm cao ở phía đông Tân Cảnh. Ông bàn với Chính ủy Lê Đình Yên tương kế tựu kế, chấp nhận cho phía VNCH trá hàng để thừa cơ tiêu diệt. Tưởng đã đánh lừa được phía QGP, Trung đoàn trưởng trung đoàn 47 cho quân củng cố lại công sự phòng ngư, chuẩn bị cố thủ lâu dài, nhưng bất ngờ từ 2 hướng đông và tây, các chiến sĩ QGP như từ đất chui lên, đồng loạt xung phong như vũ bão vào các lô cốt địch. Bị đánh bất ngờ, quân VNCH chưa kịp tổ chức chống trả đã nhanh chóng bị tiêu diệt. Bộ chỉ huy trung đoàn 47 phải chui xuống hầm ngầm để cố thủ. Các mũi tấn công khép chặt vòng vây, quyết không cho tháo chạy. Trong lúc đó, tại khu sân bay dã chiến, các vị trí phòng thủ của QLVNCH cũng lần lượt tan rã. Bốn xe tăng phía QLVNCH từ trong cứ điểm chạy ra khỏi căn cứ, thì gặp phải 4 chiếc xe tăng T54 vừa từ Tân Cảnh cơ động lên. Một cuộc rượt đuổi diễn ra chớp nhoáng tại bờ rào căn cứ, kết quả 2 xe tăng QLVNCH bị 4 chiếc T54 bắn cháy tại trận.Đến đây, thì binh sĩ VNCH trong căn cứ bắt đầu tháo chạy tán loạn. Phần lớn chạy dọc sông Pô Cô với hy vọng sẽ chui xuống chiếc cầu bí mật dưới nước để chạy thoát sang bên kia sông, nhưng không ngờ chiếc cầu bị phía QGP phát hiện và phá sập. Buộc các binh sĩ VNCH phải chạy dồn về một thung lũng hẹp, tại đây lại bị 1 đơn bị của QGP được tướng Chơn cho phục sẵn xông ra diệt và bắt gần hết, số còn lại buông súng đầu hàng. Riêng sở chỉ huy ở trung tâm căn cứ vẫn không chịu quy hàng, chống trả dữ dội, buộc QGP dùng một quả bộc phá nặng 20kg thả xuống hầm ngầm tiêu diệt. 10 giờ ngày 24 tháng 4, căn cứ Đăk Tô 2 hoàn toàn bị tiêu diệt. Thừa thắng, Trung đoàn 141 phát triển tấn công chi khu quận ly Đăk Tô, nơi các mũi tiến công của QGPMN đã lướt qua trên đường tiến quân. 10 giờ 30 phút, Đăk Tô 1 bị tiêu diệt. Cụm phòng thủ liên hoàn Đăk Tô- Tân Cảnh đã bị Sư đoàn 2 chính thức xóa tên trên bản đồ quân sự. Trong trận đánh này, lần đầu tiên, Sư đoàn 2 diệt được một đơn vị cấp sư đoàn của QLVNCH, trong đó diệt gọn bộ chỉ huy sư đoàn 22, các trung đoàn 42, 47, trung đoàn 14 thiết giáp VNCH. Loại khỏi vòng chiến đấu hơn 3.000 binh sĩ VNCH, bắt 743 tù binh, bắn rơi 40 máy bay các loại, thu và phá hủy 56 xe quân sự, trong đó có 24 xe tăng; thu hơn 700 súng, trong đó có 8 khẩu pháo 105 và 155 ly và 200 tấn gạo. Sau trận đánh này, Tướng Nguyễn Chơn được cấp trên tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất. Đồng thời với chiến công này, tên Ông đã được ghi vào danh sách rất ngắn những nhà cầm quân tài giỏi đã làm nên những chiến công vang dội cùng núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ.



