Khác

ĐÀM VĂN NGỤY

Đàm Văn Ngụy (1927 – 2015), bí danh Văn Chung, là một tướng lĩnh, sĩ quan cấp cao, quân hàm Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông là một trong những đội viên đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân năm 1944, từng giữ các chức vụ Sư đoàn trưởng các Sư đoàn 1, Sư đoàn 7, Sư đoàn 316, Phó Hiệu trưởng Quân sự Trường Sĩ quan Chính trị Quân sự, Tư lệnh Quân khu 1. Ông tham gia các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, và chiến tranh biên giới 1979.[1] Ngoài ra ông còn là Ủy viên

Lai Châu05/03/2026LÙ PHƯƠNG THẢO (ĐOÀN TRƯỜNG CAO ĐẲNG LAI CHÂU)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Thân thế

  • Tên: Đàm Văn Ngụy

  • Sinh: 1/5/1927

  • Quê quán: xã Xuất Tính (nay là xã Minh Khai), huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng

  • Dân tộc: Tày

  • Mất: 15/2/2015 tại Hà Nội

  • An táng: Nghĩa trang Mai Dịch

  • Ông tham gia cách mạng từ rất sớm, mới 14 tuổi đã làm liên lạc cho Việt Minh, dẫn đường và tiếp tế cho cán bộ hoạt động bí mật.

    2. Tham gia lực lượng vũ trang cách mạng

    Năm 1945, ông gia nhập Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

    Sau đó ông phục vụ trong Trung đoàn 28 (Chi đội Lạng Sơn), bắt đầu từ các chức vụ nhỏ như:

    • cán bộ tiểu đội

  • cán bộ trung đội

  • Đây là giai đoạn ông tích lũy kinh nghiệm chiến đấu ban đầu.

    3. Kháng chiến chống Pháp (1946–1954)

    Trong thời kỳ chiến tranh với Pháp, ông tham gia nhiều trận chiến tại vùng Lạng Sơn – Cao Bằng.

    Một số chiến công tiêu biểu:

    • 1946: chỉ huy tiểu đội phòng ngự tại Đồng Đăng, chặn địch để bảo vệ lực lượng rút lui.

  • 1947: phục kích đoàn xe quân sự Pháp ở Bó Củng (Lũng Vài), trực tiếp dùng lựu đạn phá xe thiết giáp.

  • 1949: tiếp tục phục kích đoàn xe quân sự Pháp tại Lũng Vài.

  • 1953: truy kích biệt kích Pháp hơn 6 giờ, tiêu diệt 14 lính.

  • Ông được:

    • kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1947

  • học Trường Lục quân Việt Nam (1952–1953).

  • Năm 1956, ông được:

    • phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

  • nhận Huân chương Quân công hạng Ba.

  • 4. Kháng chiến chống Mỹ

    Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội:

    • 1965: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, Sư đoàn 316

  • 1967: đưa trung đoàn vào chiến trường Tây Nguyên

  • 1968: tham gia Tổng tiến công tại Tây Ninh – Dầu Tiếng

  • sau đó làm Sư đoàn phó Sư đoàn 5.

  • Chỉ huy cấp sư đoàn

    • 1972: Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7, tham gia Chiến dịch Nguyễn Huệ

  • 1973: trở ra Bắc, làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316.

  • Chiến dịch 1975

    • Chỉ huy Sư đoàn 316 trong Chiến dịch Tây Nguyên, đánh chiếm Buôn Ma Thuột – trận mở màn cho cuộc tổng tiến công.

  • Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, tấn công hướng Trảng Bàng – Củ Chi.

  • 5. Sau năm 1975 và chiến tranh biên giới

    Sau khi đất nước thống nhất:

    • 1976: Phó hiệu trưởng quân sự Trường Sĩ quan Chính trị

  • 1978: Phó Tư lệnh Quân khu 1

  • Năm 1979, khi xảy ra Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979, ông:

    • làm Tư lệnh Quân đoàn 8 (Binh đoàn Pắc Bó)

  • chỉ huy lực lượng chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.

  • 6. Cấp bậc và chức vụ cao

    • 1980: phong Thiếu tướng

  • 1984: phong Trung tướng

  • 1987–1997: Tư lệnh Quân khu 1, Bí thư Đảng ủy Quân khu.

  • Ngoài ra ông còn:

    • Ủy viên Trung ương Đảng khóa VI, VII

  • Đại biểu Quốc hội khóa VIII, IX.

  • Tóm lại:
    Đàm Văn Ngụy là một trong những vị tướng trưởng thành từ chiến sĩ cơ sở, tham gia cả ba giai đoạn chiến tranh lớn của Việt Nam:

    1. Kháng chiến chống Pháp

  • Kháng chiến chống Mỹ

  • Chiến tranh biên giới phía Bắc

  • Ông được xem là một chỉ huy thực chiến tiêu biểu của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn