dân số địa phương bị mù chữ
Đi đôi với chính sách bóc lột về kinh tế, áp đặt về chính trị, thực dân Pháp còn tăng cường nô dịch về văn hóa, thi hành chính sách "ngu dân" trên khắp đất nước ta, đẩy cuộc sống của nhân dân vào vòng tăm tối. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xã Tân Lập có 104 hộ với hơn 700 nhân khẩu. Đồng bào dân tộc Tày làm ruộng và sinh sống ở vùng thấp, còn đồng bào Dao sống rải rác ở các bản trên triền núi cao nên càng không có điều kiện học hành. Bên cạnh đó, chính quyền thực dân không mở trường lớp để nhân dân ta bị mù chữ, trình độ nhận thức bị hạn chế dễ dàng cai trị. Đến năm 1922, chỉ có 6 trường cấp I ở Bắc Kạn và Thái Nguyên. Ở Quảng Bạch có một trường Hương sư do thầy giáo Nguyễn Duy Noọng (quê ở Bắc Kạn) lên dạy học. Trường lớp được mở ra chỉ có con em khá giả, giàu có hoặc có địa vị trong xã hội mới được đi học. Vì vậy, hơn 90% dân số địa phương bị mù chữ. Bên cạnh việc hạn chế mở các trường lớp, chúng còn ra sức khuyến khích nhân dân các dân tộc địa phương dùng thuốc phiện, rượu cồn, phu phen tạp dịch. Các tục lệ phong kiến lạc hậu, cổ hủ, mê tín dị đoan rất phổ biến. Hiện tượng cờ bạc diễn ra thường xuyên trong các đám tang, đám cưới... một số hủ tục như trong đám tang người chết đế trong nhà 5 - 6 ngày diễn ra phố biến, thịt cả trâu bò để tổ chức gây tốn kém, lãng phí... đẩy người nông dân vào hoàn cảnh túng quẫn, cùng cực, làm mất đi tinh thần chiến đấu của người dân, đặc biệt là thế hệ thanh niên. Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe không được chính quyền thực dân phong kiến chú ý. Vì vậy, người dân đau ốm, sinh đẻ chủ yếu tìm đến các thầy lang bốc thuốc, thầy cúng, thầy mo hoặc chữa bằng kinh nghiệm dân gian với bài thuốc bằng lá cây thuốc nam... để chữa bệnh. Bên cạnh đó, do kinh tế khó khăn, tập quán canh tác lạc hậu và ách áp bức bóc lột tàn bạo của chế độ thực dân phong kiến nên đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, vệ sinh môi trường ở các thôn bản không được quan tâm nên nhiều loại dịch bệnh bùng phát như: sốt rét, kiết lỵ, đậu mùa,...



