ĐẢNG BỘ VÀ QUÂN DÂN VĨNH HỰU TRONG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH CỦA MỸ - NGỤY (1968 - 1975)
1) Âm mưu phản kích của địch sau tết Mậu Thân (1968)
Từ cuối tháng 02-1968, địch củng cố lại lực lượng đẩy mạnh bình định
những xã chúng đã kiểm soát được, tập trung phản kích mạnh vùng tranh chấp,
đặc biệt là tăng cường các hoạt động đánh phá, lấn chiếm, bình định căn cứ Vĩnh
Hựu và ấp Bình Hiệp Nam (xã Thạnh Nhựt).
60
Đối với xã Vĩnh Hựu địch đề ra kế hoạch lấn chiếm, bình định khá táo
bạo:
- Bắn pháo không hạn chế.
- Tập trung phần lớn lực lượng bảo an, biệt kích, càn bố tiêu diệt lực
lượng vũ trang, cán bộ, đảng viên và khống chế quần chúng nòng cốt, gia đình
cơ sở cách mạng.
- Dồn nhà dân ở tản mạn ngoài đồng vào khu vực tập trung ven lộ 6, lộ 8
để kiểm soát; kiểm tra chặt chẽ người ra vào, nhất là người lạ mặt.
- Thúc ép bộ máy tề ấp, tề xã và lính đồn trú hoạt động khống chế quần
chúng, đánh bật lực lượng kháng chiến ra khỏi dân cho quân chủ lực tiêu diệt.
- Tăng quân số và cài cắm"cán bộ bình định", mị dân bằng kiểu cùng ăn,
cùng ở, cùng làm với gia đình có truyền thống cách mạng để khống chế, theo
dõi.
- Cưỡng bức gia đình có chồng, con là cán bộ, chiến sĩ cách mạng ngủ tập
trung tại đồn để chúng kiểm soát và làm "con tin", "lá chắn" nhằm tránh bị bộ
đội, du kích tấn công ...
Nhìn chung, kế hoạch lấn chiếm, bình định của địch hòng xóa bỏ căn cứ
cách mạng Vĩnh Hựu là rất nham hiểm. Tên quận trưởng mới nhận chức tỏ ra rất
tâm đắc, cho rằng kế hoạch này có tính khả thi cao. Việc triệt phá căn cứ Vĩnh
Hựu, đánh bật lực lượng kháng chiến ra khỏi dân để tiêu diệt chỉ còn là vấn đề
thời gian nữa thôi.
2) Tình hình của ta sau tết Mậu Thân:
Cuộc tổng tấn công và nổi dậy của quân dân miền Nam nói chung, quân
dân huyện Hòa Đồng nói riêng làm cho chi bộ và quân dân xã Vĩnh Hựu hết sức
phấn khởi, tin tưởng vào thắng lợi. Nhân dân Vĩnh Hựu ai nấy đều thấy mình
lớn lên trong không khí cách mạng sôi nổi của quê hương. Tinh thần cách mạng
hào hùng ấy là sức mạnh tiềm tàng của cán bộ và quân dân Vĩnh Hựu trong
chặng đường cách mạng mới.
Trải qua nhiều năm tháng đấu tranh chống chính sách kềm kẹp, khủng bố
của địch, đặc biệt là cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân, các lực lượng
vũ trang, chính trị, binh vận xã Vĩnh Hựu được rèn luyện, trưởng thành vượt bậc
về bản lĩnh, phương pháp hoạt động và có một bề dày kinh nghiệm, được nhân
dân tin tưởng ủng hộ. Tuyệt đại đa số đảng viên, cán bộ chủ chốt các ban ngành
vững vàng kiên định lập trường giai cấp, sẵn sàng xả thân vì lý tưởng cách mạng
61
cao cả, gương mẫu, đoàn kết. Chi bộ Đảng thường xuyên nhận được sự lãnh đạo
trực tiếp của Huyện ủy Hòa Đồng và sự hỗ trợ có hiệu quả của Huyện đội, lực
lượng vũ trang tỉnh. Đó là những thuận lợi cơ bản.
Bên cạnh những thuận lợi, tình hình sau tết Mậu Thân phong trào cách
mạng Vĩnh Hựu cũng gặp không ít khó khăn. Kế hoạch phản kích của địch toàn
diện và thâm độc hơn trước. Nhiều xã trên địa bàn huyện đã bị địch kiểm soát,
bình định, nên chúng có khả năng tập trung lực lượng lớn để đánh phá căn cứ
Vĩnh Hựu. Khó khăn của ta lúc này là bộ đội tỉnh ( tiểu đoàn 514B), đại đội 305
huyện và du kích xã đều bị tổn thất nặng về quân số; sự hỗ trợ của bộ đội với du
kích xã bị suy giảm. Một số quần chúng nòng cốt, gia đình cơ sở bị lộ trong đợt
nổi dậy Tết Mậu Thân, địch tìm cách theo dõi, cô lập. Thậm chí địch còn nắm
được cả những ám hiệu đèn, phơi khăn ... của gia đình cơ sở với cán bộ du kích
đã và đang sử dụng lâu nay, dẫn đến mối liên lạc nắm tình hình và tiếp tế lương
thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh gặp trở ngại lớn. Phong trào cách mạng xã
Vĩnh Hựu đang đúng trước một thử thách mới đầy cam go, ác liệt.
3) Đấu tranh chống địch lấn chiếm, bình định; giữ gìn lực lượng, bảo vệ
căn cứ (1968 - 1971).
Đầu năm 1968, đồng chí Bí thư chi bộ xã được cấp trên điều động nhận
nhiệm vụ mới, đồng chí Nguyễn Văn Hổ được cử giữ chức vụ Bí thư. Để đối
phó kịp thời kế hoạch lấn chiếm, bình định của địch, chi bộ đã có nhiều cuộc
họp nhằm tìm ra giải pháp, chủ trương đúng đắn nhằm duy trì phong trào, giữ
gìn lực lượng. Nghị quyết của chi bộ xác định rõ một số nhiệm vụ chủ yếu: Tăng
cường công tác tuyên truyền, giáo dục đảng viên, cán bộ, chiến sĩ và quần chúng
để vạch trần âm mưu của địch, xây dựng quan điểm, lập trường cách mạng, phát
huy truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Lực
lượng du kích xã lấy hoạt động phân tán là chính, chỉ tập trung theo thời gian cụ
thể. Mặt trận và các đoàn thể chú trọng công tác xây dựng nhân tâm, xây dựng
gia đình cơ sở mới cho cán bộ, du kích bám địa bàn hoạt động, có hình thức tổ
chức quần chúng đấu tranh chính trị, binh vận mềm dẻo, linh hoạt, sắc bén nhằm
bảo vệ quyền tự do, dân chủ chính đáng của nhân dân, duy trì ảnh hưởng của
Đảng. Cán bộ, đảng viên phải kiên định lập trường, trung thành với Đảng, giữ
vững khí tiết người chiến sĩ cộng sản trong mọi hoàn cảnh ...
Nghị quyết của chi bộ ra đời trong lúc địch ráo riết phản kích, đánh phá ta
ác liệt theo kế hoạch chúng đã vạch sẵn. Ban ngày, bảo an, dân vệ tiến hành càn
quét truy lùng cán bộ, du kích và cưỡng bức nhân dân di dời nhà cửa vào khu
vực tập trung. Đoàn "cán bộ bình định" của chúng sục vào từng nhà dân để kiểm
tra, theo dõi, khống chế. Ban đêm, chúng rải quân trong khu dân cư và dùng biệt
kích đánh điểm, đón lõng chặn bắt cán bộ. Đồng thời, trút pháo dữ dội xuống địa
hình chúng cho là mất an ninh, vườn ruộng nhiều nơi dày đặc hố pháo.
62
Mặc dù, tình hình hết sức bất lợi, lực lượng du kích xã lại mỏng nhưng
không thể để giặc tùy tiện hoành hành ngang ngược. Sau một thời gian theo dõi,
nghiên cứu quy luật hoạt động của địch, ban chỉ huy xã đội đã lập nhiều phương
án tác chiến, tập trung lực lượng, bất ngờ tấn công các toán lính đóng dã chiến
và đoàn cán bộ bình định của địch, đồng thời gài mìn, lựu đạn, hầm chông các
đường mòn để ngăn cản địch càn quét và tiêu hao lực lượng của chúng. Do thế
và lực của ta lúc này bị suy giảm, nên trong năm 1968, các trận đánh diễn ra với
số lượng tương đối nhiều nhưng kết quả đạt được thấp, ngược lại, lực lượng của
ta tiếp tục bị tổn thất, tình hình vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Đến
cuối năm 1968 các ban ngành xã chỉ còn 31 người, trong đó có 14 đảng viên.
Hoạt động của các đoàn thể về công tác xây dựng nhân tâm, xây dựng gia đình
cơ sở trong vùng địch kiểm soát cũng đạt được kết quả rất hạn chế.
Bước qua năm 1969, địa bàn trú quân của ta ngày càng bị thu hẹp. Địch
vừa củng cố đồn bót cũ, vừa đóng thêm đồn mới để chia cắt địa bàn, làm bàn
đạp lấn chiếm đốn phá địa hình, tìm diệt và đẩy bật lực lượng kháng chiến, hoàn
thành kế hoạch bình định. Trong hoàn cảnh khó khăn ngày một gia tăng, nhưng
cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang xã vẫn quyết tâm bám đất, bám
dân hoạt động, thực hiện nghiêm túc sự lãnh đạo của chi bộ Đảng. Điều kiện
sống và đấu tranh với địch cực kỳ gian khổ. Không ít ngày cán bộ, chiến sĩ phải
nhịn đói, nhịn khát dưới hầm bí mật để gìn giữ lực lượng cho Đảng, duy trì mối
liên hệ giữa Đảng với dân, vận động nhân dân bền gan vững chí, bất hợp tác với
địch. Do vậy, hầu hết quần chúng bề ngoài tỏ thái độ hòa hoãn với địch để giữ
thế hợp pháp nhưng vẫn một lòng một dạ hướng về cách mạng. Chính địch cũng
cảm nhận được tình cảm thầm kín đó, nên chúng thường hăm doạ đồng bào: "Ăn
cơm quốc gia, thờ ma cộng sản".
Sự kiên trì vận động quần chúng của cán bộ Mặt trận, đoàn thể đã làm
chuyển biến quan trọng một bộ phận nhân dân có tư tưởng lưng chừng trở thành
gia đình cơ sở cách mạng tin cậy, cung cấp kịp thời cho ta nhiều tin tức có giá
trị, tạo điều kiện cho bộ đội, du kích đánh địch. Trong năm 1969, nhiều chiến sĩ
thương bệnh binh đã hồi phục sức khỏe trở về đơn vị chiến đấu. Được quần
chúng hỗ trợ, bộ đội địa phương và du kích Vĩnh Hựu đã phối hợp chống càn,
đánh đồn, bắn tỉa các toán địch đi đốn cây phá địa hình nhiều trận để ngăn cản
sự lấn chiếm của chúng. Đêm 11.5.1969, bộ đội địa phương và du kích đã phối
hợp tập kích bất ngờ lính đồn Vàm Giồng đóng dã chiến, tiêu diệt và làm bị
thương 20 tên, thu 5 khẩu súng các loại. Đồn Vàm Giồng bị tấn công làm cho
binh sĩ các đồn khác phải co thủ. Bên cạnh cách đánh địch bằng hầm chông, lựu
đạn gài dưới mặt đất, du kích xã còn sáng tạo cách gài lựu đạn trên cây, khi lính
đốn cây, lựu đạn sẽ rớt nổ làm chết và bị thương nhiều tên. Bằng các biện pháp
bảo vệ địa hình tích cực, bộ đội và du kích vẫn đứng chân được ở lõm căn cứ
63
Vĩnh Hựu để đánh địch. Do vậy địch vẫn chưa thể thực hiện nổi ý đồ đẩy bật lực
lượng chính trị, vũ trang của ta ra khỏi căn cứ.
Bị Tỉnh trưởng Gò Công thúc ép, tên Quận trưởng Hòa Đồng điên cuồng
gia tăng các hoạt động quân sự hòng triệt phá bằng được căn cứ Vĩnh Hựu trong
thời gian ngắn nhất. Năm 1970 - 1971 Quận trưởng Hòa Đồng đã xin thượng
cấp của y cho máy bay ném bom, rải chất độc hóa học hủy diệt địa hình xã Vĩnh
Hựu và Bình Ninh( huyện Chợ Gạo); dùng máy bay phát loa kêu gọi cán bộ,
chiến sĩ cách mạng chiêu hồi, chiêu hàng; dùng máy bay “bò nóc’’, “cán gáo”
quần đảo suốt ngày đêm để phát hiện trảng xê, công sự, bắn giết bộ đội, du kích.
Cùng với không quân và pháo binh, bộ binh địch chà đi xát lại từng bụi cây
chúng nghi ngờ. Đối với nhân dân, địch bắt thân nhân gia đình cách mạng học
chỉnh huấn, trình diện hàng ngày, khuyến khích binh lính lấy vợ, con của cán bộ,
chiến sĩ thoát ly với ý đồ phá cách mạng tận gốc. Chúng cưỡng bức thanh niên
từ 16 đến 40 tuổi vào phòng vệ dân sự, mỗi ấp một toán từ 80 đến 100 người
thay phiên canh gác ban đêm do chủ ấp và toán trưởng điều khiển nhằm ngăn
chặn cán bộ, bộ đội, du kích xâm nhập. Riêng toán phòng vệ dân sự ấp Hựu
Phong địch trang bị vũ khí mạnh có cả trung liên 3, AR15, các loại mìn… như
quân chủ lực. Chúng nâng lên thành lự lượmg phòng vệ xung kích.
Đối phó với nấc thang chiến tranh mới của địch, quần chúng nòng cốt và
gia đình cơ sở, gia đình cách mạng phải tạm thời hạn chế hoạt động để tránh sự
khủng bố của địch. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, cán bộ, đảng viên và du kích xã
Vĩnh Hựu vẫn kiên trì bám trụ, ban ngày phải rút xuống hầm bí mật, ban đêm
bung ra hoạt động. Cán bộ, đảng viên vẫn khéo léo vượt qua các trạm kiểm soát
của địch để liên lạc với gia đình cơ sở nắm tình hình cung cấp cho bộ đội, du
kích. Do vậy, đoàn 6"cán bộ bình định", đồn Cầu Sắt,Vàm Giồng, Ao Dương ...
của địch vẫn liên tục bị bộ đội địa phương và du kích Vĩnh Hựu tấn công.
Trong suốt năm 1970, bộ đội và du kích bám đánh địch nhiều trận, có tháng 6
trận liên tiếp, tên Quận trưởng tự hỏi: “ ban ngày Việt cộng trốn ở đâu mà đêm
xuống Việt cộng như từ dưới đất chui lên xuất hiện khắp nơi? ” nên nhiều lần
bắt lính hộ tống đi thị sát tình hình . Đoàn 6 “cán bộ bình định” bị bộ đội, du
kích bám đánh nhiều lần, nhiều tên hoảng sợ phải đào ngũ. Tên trưởng đoàn
bình định này đã bị cấp trên của y kỉ luật cách chức, điều đi nơi khác. Điều đó
làm cho địch càng đau đầu, bối rối.
Mặc dù cán bộ và du kích xã Vĩnh Hựu hết sức mưu trí trong hoạt động
bám trụ, đánh địch nhưng trước một kẻ địch cũng không ít "mưu ma chước
quỷ", có bộ máy chính quyền, quân đội, phương tiện chiến tranh mạnh hơn ta
nhiều lần, làm cho lực lượng ta mỏng dần. Nhiều cán bộ, chiến sĩ cách mạng
trung kiên của chi bộ, lực lượng vũ trang xã đã anh dũng hy sinh như: đồng chí
Nguyễn Thị Thậm, Đặng Thị Tịnh, Nguyễn Hữu Phước, Nguyễn Thị Lối, Ngô
Văn Nhiều, Bảy Cừ, Hồ Văn Khanh, Nguyễn Thị Tốt... Trước tình hình địch
64
đánh phá ngày một ác liệt, tháng 10-1971 Huyện ủy Hòa Đồng đã lãnh đạo các
cơ quan Huyện ủy, Huyện đội, Mặt trận, đoàn thể tạm thời di chuyển qua huyện
Bình Đại (tỉnh Bến Tre) theo chủ trương của Khu ủy Khu 8 và Tỉnh ủy Gò Công
để bảo toàn lực lượng. Đây là quyết định kịp thời, đúng đắn của Đảng nhằm
chuẩn bị cho giai đoạn cách mạng mới.
4) Đấu tranh mở vùng, mở mảng, xây dựng lại căn cứ, từng bước giành lại
thế chủ động tiến công địch trong năm 1972:
Từ tháng 10-1971 chi bộ Đảng tổ chức đưa toàn thể cán bộ, đảng viên và
du kích hoạt động bất hợp pháp với địch tạm thời rời địa bàn sang căn cứ xã
Vang Quới (huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre), chỉ còn số đảng viên hợp pháp ở lại
bám địa bàn, nắm tình hình địch.
Tranh thủ thời gian dưỡng quân, củng cố lực lượng, Tỉnh ủy Gò Công đã
mở nhiều lớp học chính trị, quân sự cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ lực lượng
vũ trang nhằm quán triệt sâu những quan điểm, phương châm của Đảng; chiến
thuật chống kế hoạch bình định đối với lực lượng vũ trang. Đồng thời, căn cứ
vào tình hình cụ thể của chiến trường Gò Công; Tỉnh ủy, sắp xếp lại tổ chức hai
Huyện ủy thành 4 Ban cán sự Đảng quận I, II, III, IV. Xã Vĩnh Hựu thuộc Ban
cán sự Đảng quận I 1. Tỉnh ủy chủ trương cho cán bộ, chiến sĩ móc nối thân
nhân qua căn cứ thăm chồng, cha, con, em và nắm tình hình để có kế hoạch xây
dựng nòng cốt.
Thực hiện sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Gò Công, các Ban cán sự Đảng đã xây
dựng các tổ công tác trở về bám địa bàn, chuẩn bị cho kế hoạch mở vùng, mở
mảng, phát động quần chúng đấu tranh. Ngày 7-1-1972, đồng chí Võ Ngọc
Thanh và Huỳnh Văn Lâm được Ban cán sự Đảng I cử về xã Vĩnh Hựu liên lạc
với nòng cốt nắm tình hình. Tháng 02-1972 một tổ công tác được thành lập gồm
các đồng chí Hoàng, Lanh, Sáu Điểm, Tư Sĩ do đồng chí Phó Bí thư Ban cán sự
Nguyễn Văn Hổ lãnh đạo đã về xã Vĩnh Hựu. Cùng lúc, tổ công tác do đồng chí
Võ Ngọc Thanh lãnh đạo được thành lập, đưa lực lượng cán bộ, chiến sĩ từ ấp
Hòa Phú (xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo) về địa bàn ấp Hựu Thạnh phối hợp
hoạt động. Các tổ công tác đã phân công cán bộ, chiến sĩ tỏa về địa bàn các ấp bí
mật liên lạc với nòng cốt, gia đình cơ sở để xây dựng, phát triển lực lượng quần
chúng, chuẩn bị lương thực, thuốc men nuôi quân.
Sau 3 tháng bám địa bàn, các chiến sĩ tổ công tác đã phối hợp với nội ứng
tấn công bất ngờ đồn Cá Chốt, ta diệt nhiều tên địch, trong đó có 2 tên cố vấn
Mỹ , tịch thu 1 khẩu trung liên, 4 khẩu súng trường và nhiều đạn dược. Số còn
lại bỏ đồn tháo chạy tán loạn. Trận đánh này tuy không lớn nhưng gây chấn
1 Ban c¸n sù жng quËn I do ®ång chÝ Đoàn Trần NghiÖp lµm bÝ th-, ®ång chÝ NguyÔn V¨n Hæ lµm Phã BÝ th-.
65
động mạnh đối với tinh thần binh sĩ địch vì qua một thời gian ngắn chúng từng
huênh hoang đã tiểu trừ được họa cộng sản và cho rằng cộng sản khó mà ngóc
đầu dậy nổi. Đây là đòn giáng mạnh vào bộ máy ngụy quân, ngụy quyền của
địch. Ngược lại, trận đánh đồn Cá Chốt cùng với tin chiến thắng giòn giã của
quân và dân ta trong mùa hè 1972 đã làm cho nhân dân hết sức phấn khởi, tin
tưởng. Nó như cánh chim báo bão khích lệ quần chúng bị áp bức xã Vĩnh Hựu
nói riêng và tỉnh Gò Công nói chung sẳn sàng nổi dậy bước vào cao trào cách
mạng mới.
Ngày 26 và 27 tháng 7 năm 1972, chiến thắng Đồng Sơn càng thôi thúc
quân dân xã Vĩnh Hựu nổi dậy. Được lực lượng bộ đội thuộc trung đoàn 24 hỗ
trợ, ngay những ngày đầu tháng 8-1972, tổ công tác đã phối hợp với đại đội 312
và đại đội 13 đẩy lùi trận càn lớn của địch vào xã Vĩnh Hựu. Do hướng xuất
quân của địch lệch với trận địa phục kích của ta, nên thắng lợi có phần hạn chế.
Mặc dù vậy, ta cũng đã tiêu diệt và tiêu hao một bộ phận sinh lực quan trọng của
chúng. Vùng căn cứ Ban cán sự Đảng I được tái lập. Đó là thắng lợi rất cơ bản
của quân và dân ta.
Những tháng cuối năm 1972, địch tập trung lực lượng địch gia tăng mức
độ đánh phá ta bằng pháo binh, bộ binh và biệt kích, cưỡng bức nhân dân tiếp
tục đốn cây phá địa hình hòng đẩy bật lực lượng ta một lần nữa. Nhưng cán bộ
và lực lượng vũ trang ta vẫn kiên trì chịu đựng mọi gian khổ, giữ vững thế bám
trụ chiến đấu giằng co quyết liệt với địch. Nhiều đồng chí như: Tư Bính, Ba
Phú, Bảy Răng, Hoàng ... đã quyết tâm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo
vệ bằng được căn cứ. Âm mưu xóa bỏ căn cứ Vĩnh Hựu của địch lần thứ 2 bị
phá sản.
5) Đấu tranh đòi địch thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri, giải phóng
quê hương (01-1973 - 30-4-1975).
Ngay sau khi nhận được tin Hiệp định Pari "về chấm dứt chiến tranh, lập
lại hòa bình ở miền Nam Việt nam" được ký kết (27-01-1973), Ban cán sự Đảng
quận I đã triệu tập hội nghị Ban cán sự mở rộng nhận định tình hình và thông
qua kế hoạch hành động của quân dân ta khi Hiệp định có hiệu lực.
Hội nghị thống nhất nhận định: Mặc dù đại diện chính quyền Mỹ và chính
quyền ngụy Sài Gòn đã ký kết Hiệp định Pa-ri, nhưng chúng vẫn chưa từ bỏ dã
tâm thâm độc hòng chia cắt lâu dài đất nước ta. Điều mà Mỹ - ngụy sẽ phản bội
như chúng đã từng phản bội Hiệp định Giơ-ne-vơ (20-7-1954) là khó tránh khỏi.
Do vậy ta phải chủ động đối phó.
Kế hoạch hành động của ta đã được hội nghị nhất trí cao, đó là: Cắm cờ
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại ranh vùng giải phóng, vùng
66
tranh chấp nhằm xác định vùng kiểm soát của Chính phủ lâm thời cộng hòa
miền Nam Việt nam theo tinh thần Hiệp định, làm cơ sở pháp lý đấu tranh của
quân và dân ta. Các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng giải
phóng của ta đã xác định, Mặt trận và các đoàn thể tổ chức tuyên truyền ý nghĩa
thắng lợi của Hiệp định Pa-ri, đồng thời phát động quần chúng đấu tranh chính
trị, binh vận đòi địch thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản Hiệp định đã được 4
bên ký kết, đem lại nền hòa bình ổn định, tiến tới tổng tuyển cử tự do, thống
nhất nước nhà. Căn cứ vào kế hoạch chung, từng cơ quan, đơn vị khẩn trương
xây dựng kế hoạch hành động cụ thể nhằm ngăn chặn hành động hiếu chiến của
địch.
Thực hiện tinh thần hội nghị Ban cán sự mở rộng, chi bộ Đảng xã Vĩnh
Hựu do đồng chí Nguyễn văn Tươi (6 Tươi) làm bí thư đã triển khai ngay kế
hoạch công tác. Trong đêm 27-1-1973, cán bộ, chiến sĩ du kích và nòng cốt quần
chúng đã cắm cờ Mặt trận dân tộc giải phóng nửa đỏ, nửa xanh, giữa có sao
vàng năm cánh để xác định ranh giới vùng làm chủ của ta với vùng địch tạm
thời kiểm soát. Cùng lúc, địch cũng ra lệnh cho binh sĩ lấn sâu vào vùng giải
phóng của ta cắm cờ ba sọc. Một tiểu đội địch đã nổ súng bắn vào đơn vị bộ đội,
du kích tại ấp Hựu Thạnh. Lực lượng vũ trang của ta đã triển khai đội hình chiến
đấu, bắn bị thương một tên địch, số còn lại bị kẹp giữa vòng vây buộc phải giơ
súng xin hàng. Ta giáo dục số binh sĩ này rồi phóng thích ngay đêm 27-1-1973.
Đúng như nhận định của ta, kế hoạch hậu chiến sau Hiệp định Pa-ri,
chúng đã chuẩn bị sẵn. Ngay sáng 28-1, địch huy động tổng lực các sắc lính bảo
an, dân vệ, biệt kích hiện có tràn vào Vĩnh Hựu nhổ cờ Mặt trận dân tộc giải
phóng, cắm cờ ba sọc và dùng sơn vẽ cờ ba sọc khắp mọi chỗ như: mái nhà dân,
bờ tường, gốc cây... để lấn đất, giành dân. Đồng thời, chúng ráo riết lùng sục tìm
diệt lực lượng kháng chiến.
Do đã được chuẩn bị chu đáo từ trước, ta không bất ngờ với âm mưu phản
bội Hiệp định của địch. Bộ đội tiểu đoàn 514 B và bộ đội địa phương huyện, du
kích xã Vĩnh Hựu đã chủ động đánh địch từ nhiều hướng, ngăn chặn sự lấn
chiếm của chúng. Tại Vàm Giồng, bộ đội tiểu đoàn 514 B của Tỉnh đội Gò Công
đã chiến đấu quyết liệt với đại đội bảo an địch suốt ngày 28-1. Bộ đội địa
phương huyện và du kích xã phối hợp chống địch lấn chiếm nhiều đợt vào ấp
Hựu Thạnh, Vĩnh Phú làm cho nhiều tên địch chết và bị thương. Cùng với lực
lượng vũ trang, quần chúng nòng cốt cách mạng và gia đình binh sĩ do chi bộ
lãnh đạo đã khéo sử dụng thế hợp pháp đấu tranh chính trị, binh vận đòi địch
nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Pa-ri, chấp hành lệnh ngừng bắn, phản đối
việc đưa con em đi càn chết uổng mạng... Sự phối hợp đấu tranh chặt chẽ, đồng
bộ 3 mũi giáp công : vũ trang, chính trị, binh vận của quân dân Vĩnh Hựu do chi
bộ Đảng lãnh đạo đã có một bề dày kinh nghiệm, nên đã gây cho địch nhiều khó
khăn, lúng túng. Nội bộ binh sĩ địch phân hoá mạnh, phần đông binh sĩ tỏ rõ thái
67
độ chán ghét chiến tranh, không muốn gây tội ác và hết sức bất bình với bọn chỉ
huy hiếu chiến. Do vậy, tuy địch có quân số đông nhưng không mạnh. Chúng
vừa phải đối phó với binh sĩ, vừa phải đối phó với nhân dân và lực lượng kháng
chiến. Trong suốt năm 1973, chính quyền địch đã tiến hành nhiều thủ đoạn
chính trị, quân sự thâm độc hòng biến Vĩnh Hựu thành vùng bình định trắng,
nhưng chúng vẫn không thực hiện được. Căn cứ cách mạng Vĩnh Hựu vẫn hiên
ngang đứng vững trước muôn vàn thử thách, hun đúc tinh thần và lực lượng của
quân dân ta vùng dậy.
Đầu năm 1974, chi bộ Đảng xã Vĩnh Hựu đã tổng kết toàn diện hoạt động
đấu tranh chính trị, vũ trang, binh vận trong năm 1973 và đề kế hoạch chống phá
kế hoạch bình định của địch, phát triển lực lượng cách mạng, tấn công địch mùa
khô 1974. Nhiệm vụ trọng tâm trong năm 1974 chi bộ xác định:
- Tập trung phá rã bộ máy kềm kẹp của địch ở từng ấp, tiến tới vô hiệu
hóa tề xã, giành tự do dân chủ cho nhân dân.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền làm cho nhân dân hiểu rõ âm mưu và
hành động phi nghĩa của địch, các chính sách đúng đắn và thiện chí của Chính
phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh hơn nữa mũi tiến công chính trị,
binh vận làm tan rã bộ máy tề - ngụy.
- Tiếp tục củng cố vùng căn cứ, thế trận ấp chiến đấu, phát triển lực lượng
vũ trang để đẩy lùi các cuộc càn của địch...
Đối phó với chủ trương của ta, bọn tề xã, chủ ấp thực hiện biện pháp
khống chế nghiêm ngặt gia đình cách mạng và quần chúng nòng cốt bằng cách
bắt ngủ tập trung ban đêm trong đồn để kiểm soát, đồng thời làm "lá chắn" cho
chúng; mặt khác đại diện xã, chủ ấp thường xuyên thay đổi chổ ngủ để tránh bị
cách mạng trừng trị. Sau một thời gian theo dõi, nắm rõ quy luật hoạt động của
chúng, tháng 5-1974 các chiến sĩ du kích được quần chúng hỗ trợ đã luồn sâu
vào ấp Hựu Thạnh mai phục. Khi tên chủ ấp và phó chủ ấp phụ trách an ninh
ngủ đêm từ xã Tân Thới về, chúng đã bị các chiến sĩ du kích trừng trị lúc 7 giờ
30 sáng. Cái chết của tên chủ ấp và phó chủ ấp Hựu Thạnh làm cho nhân dân ta
hết sức phấn khởi; ngược lại, bọn tề xã và chủ ấp còn lại hết sức hoang mang,
nhiều toán phòng vệ dân sự tê liệt, tự tan rã, chớp thời cơ thuận lợi, các gia đình
cách mạng, quần chúng nòng cốt của ta đấu tranh không chịu ngủ tập trung và
chính quyền địch cũng buộc phải mặc nhận, không dám o ép nhân dân như
trước. Đây là thắng lợi có ý nghĩa rất quan trọng của quân và dân ta trong cuộc
đấu tranh chống phá kế hoạch bình định của địch.
68
Phát huy thắng lợi và uy thế chính trị đang dâng cao của quân và dân ta,
chi bộ đã lãnh đạo lực lượng vũ trang, các đoàn thể đẩy mạnh 3 mũi giáp công
những tháng cuối năm 1974. Phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của quần
chúng lúc này hình thức tuy không rầm rộ nhưng nội dung đấu tranh sâu sắc thu
hút ngày càng nhiều gia đình binh sĩ tham gia. Những đoàn viên thanh niên lao
động được chi bộ tổ chức đưa vào hàng ngũ phòng vệ dân sự của địch làm nội
tuyến như: Võ Thanh Phong, Lê Văn Bảy, Trần Văn Vân, Đỗ Khắc Quang … đã
phản chiến, bỏ ngũ, đem súng trở về với cách mạng. Từ đây, tổ chức phòng vệ
dân sự của địch ở các ấp trên địa bàn xã bị suy sụp, tan rã nhanh chóng cả về tổ
chức và lực lượng. Phối hợp với hai mũi tiến công chính trị, binh vận, lực lượng
du kích xã kết hợp với bộ đội địa phương huyện thường xuyên đẩy mạnh hoạt
động vây ép đồn, phục kích bắn tỉa, chống càn gây cho địch nhiều tổn thất. Tiêu
biểu là trận chống càn cuối tháng 8-1974 của 3 chiến sĩ du kích Trương Văn
Phước, Nguyễn Văn Nhiều, Ngô Văn Điều đã mưu trí, dũng cảm dùng lựu đạn
đẩy lui 1 tiểu đoàn bảo an địch, tiêu diệt tại trận 17 tên, trong đó có 5 tên sĩ quan
cấp úy; bảo vệ được căn cứ cách mạng của ta. Ngày 26-11-1974, du kích xã và
bộ đội đại đội 305 huyện phối hợp tấn công đồng loạt 5 đồn địch đóng trên địa
bàn. Chỉ trong 4 giờ, lực lượng vũ trang ta đã bức rút các đồn: Chín Truyền,
Vàm Giồng, Ốc Hương, Ao Dương và chốt Nhà Ngói, tiêu diệt và làm bị thương
nhiều tên địch. ta giành lại thế chủ động khá vững chắc.
Đối chiếu với nhiệm vụ chi bộ đề ra, năm 1974 chi bộ Đảng, Mặt trận, các
đoàn thể đã lãnh đạo quân và dân xã Vĩnh Hựu giành thắng lợi toàn diện: hệ
thống bộ máy kềm kẹp của địch bị phá rã từng mảng; kế hoạch lấn chiếm bình
định của địch chẳng những không thực hiện được mà còn bị thất bại thảm hại;
quyền dân sinh,dân chủ của nhân dân được mở rộng với nhiều mức độ khác
nhau; lực lượng cách mạng từng bước phát triển vững chắc cả số lượng và chất
lượng. Ta từ thế cầm cự, giằng co với địch đã chuyển sang thế chủ động đánh
địch trên địa bàn.
Thắng lợi của quân dân miền Nam trên các chiến trường trong mùa khô
1974-1975 đã buộc địch phải rút bớt quân chủ lực tỉnh Gò Công, kể cả bảo an
quận đi ứng cứu những nơi đang có nguy cơ thất thủ. Mặt khác tin thắng trận
của quân và dân ta khắp các chiến trường làm cho tinh thần nguỵ quân, ngụy
quyền từ tỉnh đến quận, xã vốn đã suy sụp càng thêm bạc nhược, hoang mang.
Cục diện chiến tranh trên chiến trường diễn biến với nhịp độ nhanh chóng, có
lợi cho ta. Tình hình trên tác động quan trọng tới phong trào cách mạng của xã
ngay từ đầu năm 1975.
Về phía địch, Hội đồng tề và 6 ban tề ấp tỏ thái độ lo sợ rõ rệt, ban đêm
chúng phải trốn sang các xã Vĩnh Viễn, Long Hựu để ngủ, cầu an. Ban ngày
chúng mới dám trở về nhưng không dám hung hăng ức hiếp, kềm kẹp quần
chúng như trước. Binh sĩ 4 đồn với hơn 100 tên và 1 trung đội biệt kích gần 40
69
tên thấy thái độ run sợ của nhân viên ngụy quyền càng tỏ ra hoang mang, bạc
nhược. Bọn chỉ huy bề ngoài cố giữ vẻ bình tĩnh nhưng thực chất chúng đang
hết sức bi quan, bế tắc. Nhìn chung, bộ máy ngụy quân, ngụy quyền của địch rệu
rã trầm trọng.
Về phía ta, thắng lợi giòn giã của quân dân miền Nam trên các chiến
trường và thắng lợi trực tiếp của quân dân Vĩnh Hựu năm 1974 làm cho cán bộ,
chiến sĩ và nhân dân hết sức phấn khởi. Mọi người cùng nổ lực, gắng sức góp
phần mình cho sự nghiệp cách mạng. Khí thế cách mạng hừng hực, khẩn trương
diễn ra từ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ các lực lượng vũ trang đến mọi
tầng lớp nhân dân trong xã. Từ tháng 2-1975 đến tháng 4-1975, du kích cùng
với đại đội C13 (trung đoàn 24), bộ đội đơn vị tiểu đoàn 514 tỉnh Gò công; đại
đội 305 huyện Hòa Đồng liên tiếp phối hợp tấn công vào hệ thống đồn bót địch
trên địa bàn, giải tán các toán phòng vệ dân sự, giáo dục và lựa chọn số anh em
phòng vệ dân sự giác ngộ tốt để bổ sung vào lực lượng du kích; trong đó, anh
em phòng vệ dân sự ấp Hựu Thạnh hoàn toàn là nòng cốt của ta. Song song với
những đòn đánh áp đảo của lực lượng vũ trang, quần chúng nhân dân do Mặt
trận và các đoàn thể tổ chức tiếp tục phát huy thế chính trị để uy hiếp tề nguỵ về
tinh thần. Đến giữa tháng 4-1975, toàn bộ bộ máy ngụy quân, ngụy quyền của
địch trong xã hầu như đã bị tê liệt vô hiệu hóa .
Tiếp thu tinh thần Hội nghị Tỉnh ủy Gò Công mở rộng họp tại xã Bình
Ninh (huyện Chợ gạo) ngày 15-4-1975, Ban cán sự I do đồng chí Nguyễn Chí
Trung làm bí thư đã tổ chức triển khai kế hoạch giải phóng cho các chi bộ xã.
Đồng chí Võ Ngọc Thanh, bí thư chi bộ đã tổ chức quán triệt tinh thần quyết
chiến chiến lược của Trung ương Đảng, của Tỉnh ủy Gò Công và Ban cán sự
cho toàn thể cán bộ, đảng viên, cán bộ Mặt trận và các đoàn thể chính trị. Đồng
thời, phân công nhiệm vụ cụ thể từng tổ chức, cá nhân gấp rút chuẩn bị mọi mặt
cho cuộc tấn công và nổi dậy của quân và dân ta khi thời cơ đến, giải phóng quê
hương.
Lực lượng của xã Vĩnh Hựu (4-1975) gồm 1 chi bộ đảng viên bất hợp
pháp 3 đồng chí : Võ Ngọc Thanh, Ngô Văn Điều, Trương Văn Phước và 1 chi
bộ đảng viên hợp pháp 10 đồng chí do đồng chí Võ Ngọc Thanh làm bí thư, lực
lượng vũ trang có 1 tiểu đội du kích với.?.?. cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Ba
Ngoa chỉ huy. Các chiến sĩ du kích được trang bị vũ khí đầy đủ. Lực lượng đoàn
viên, hội viên các đoàn thể, quần chúng nòng cốt 6 ấp: Hựu Thạnh A, Hựu
Thạnh B, Hựu Phong, Hựu An, Vĩnh Phú, Vĩnh Quý có tới trên 400 người cùng
hàng ngàn quần chúng cách mạng. Ngoài ra còn lực lượng cán bộ các ban ngành
tỉnh, huyện và 3 cán bộ xã Long Hựu đang đứng chân trên địa bàn.
Ngay sau khi Tổng thống ngụy Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chi
bộ Đảng đã lãnh đạo lực lượng vũ trang xã đánh chiếm đồn Ốc Hương, toàn bộ
70
binh sĩ tự quy hàng; ta thu toàn bộ vũ khí, đạn được trang bị cho quần chúng
nòng cốt gia nhập du kích, số binh sĩ được phóng thích trở về đoàn tụ với gia
đình. Thừa thắng, lực lượng vũ trang phối hợp với lực lượng quần chúng tiến
công chính trị, kêu gọi trung đội biệt kích buông súng đầu hàng. Một bộ phận
binh sĩ đã bước ra khỏi hàng ngũ để nộp súng, nhưng bị tên chỉ huy ngăn cản
nên chúng khựng lại tháo chạy. Trước sự sụp đổ từng mảng của bộ máy tề -
ngụy, binh sĩ đồn Cá Chốt, công sở xã Long Hựu tại Rạch Vách, đồn Ba Nò;
đồn ngã tư Vĩnh Viễn, công sở Vĩnh Hựu tự tan rã, chỉ còn một đến 2 tên ở lại
chờ lực lượng cách mạng đến tiếp quản chiều 30-4. Nhìn chung, cuộc tiến công
và nổi dậy của quân dân xã Vĩnh Hựu diễn ra mạnh mẽ, nhanh gọn, thắng lợi
trọn vẹn không gặp một sự kháng cự nào đáng kể của địch.
Hoàn thành nhiệm vụ giải phóng xã Vĩnh Hựu, lực lượng vũ trang và cán
bộ các đoàn thể tiếp tục phối hợp với lực lượng Ban cán sự I xuống tiếp quản
quận lỵ Hòa Bình hồi 17 giờ ngày 30-4 theo sự chỉ đạo của đồng chí bí thư Ban
cán sự I. Đồng thời, huy động xe đò của dân, xe cơ giới của địch quay trở về
phối hợp với lực lượng đang vây ép quận lỵ Hòa Đồng và tiếp quản quận lỵ Hòa
Đồng lúc 20 giờ ngày 30-4-1975. Cuộc tiến công và nổi dậy của chi bộ Đảng và
quân dân xã Vĩnh Hựu nói riêng, Ban cán sự I và quân dân ta nói chung toàn
thắng.
6. Một số thành tích tổng hợp của chi bộ Đảng và quân dân xã Vĩnh Hựu
45 năm đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng:
- Đào, đắp 17.000 mét hào giao thông (hiện nay một số tuyến là kinh thủy
lợi).
- Lập 21.000 mét hàng rào chiến đấu.
- Trồng trên 5.000 kg hột giống các loại: bình linh, keo gai, gòn, trâm
bầu... tạo địa hình liên hoàn với 02 xã Vĩnh Viễn, Long Hựu.
- Vót 800.000 cây chông cau, tre, trĩ, vẹt... Trên 50.000 bàn chông sắt.
- Lập trên 10.000 ụ, ổ chiến đấu các loại.
- Đắp trên 200 mô đất trên lộ 7, lộ 8 ngăn địch.
- Nhân dân tự làm hàng ngàn hầm bí mật trong nhà hoặc trong vườn nhà
để nuôi giấu cán bộ, chứa lương thực, thuốc men phục vụ chiến đấu.
- Công trường tự chế tạo nhiều đạp lôi, lưu đạn, mìn và các loại vũ khí thô
sơ khác.
71
- Tổ chức nhiều đội dân công với trên 10 ngàn lượt người đắp lộ, tải
thương, tải đạn cho huyện, tỉnh và khu 8 (đặc biệt từ năm 1962 đến năm 1967
hàng năm hàng ngàn lượt dân công tải đạn đường dây cho khu 8).
- Tổ chức hàng trăm cuộc đấu tranh chính trị với địch ở quận Hòa Đồng,
tỉnh Gò Công, một số lần lên tỉnh Định Tường.
Đã tiêu diệt địch:
- Trong kháng chiến chống Pháp : Tiêu diệt và làm bị thương gần 200 tên
địch, giữ vững căn cứ địa cách mạng của tỉnh Gò Công nhiều năm liền.
- Trong kháng chiến chống Mỹ, chỉ tính từ năm 1960 đến 30-4-1975:
Diệt trên 1.700 tên địch; trong đó có 08 tên Mỹ (01 sĩ quan phi công, 04 cố vấn
quân sự, 03 cố vấn bình định), bắt sống 100 tên, làm rã ngũ 300 tên, diệt gọn 3
đoàn cán bộ bình định, diệt và bứt rút 05 đồn bót lớn (không kể tua, bót
nhỏ),bắn rơi 03 máy bay (trong đó rơi tại chỗ 1 chiếc F105), tịch thu trên 100
súng các loại.
Thiệt hại của xã:
- Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ của xã hy sinh : 317 đồng chí (trong đó hy
sinh trên địa bàn xã: 157 đồng chí); trên 300 nhà dân bị lính đốt là bom pháo
địch phá sập.
- Cán bộ, chiến sĩ địa phương khác của tỉnh và bộ đội miền Bắc chi viện
đã hy sinh trên địa bàn xã gần 200 đồng chí.
- Diện tích vườn ruộng phải bỏ hoang do bom đạn và địch bình định gom
dân trên 700 ha (phần lớn là vườn).
Được Đảng và Chính phủ tặng thưởng:
- 01 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.
- 04 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì.
- 03 Huân chương Giải phóng hạng nhất.
- 06 Huân chương Giải phóng hạng nhì.
- 06 Huân chương Giải phóng hạng ba.
72
- 03 Huy chương Giải phóng hạng nhất.
- 03 Huy chương Giải phóng hạng nhì.
- Cờ thi đua cấp tỉnh về thành tích chống càn, bảo vệ vững chắc căn cứ
trong kháng chiến chống Pháp.
Ngày 06 tháng 11 năm 1978 Xã Vĩnh Hựu được Chủ tịch nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu: ANH HÙNG LỰC LƯỢNG
VŨ TRANG NHÂN DÂN.


