ĐẢNG BỘ VÀ QUÂN DÂN VĨNH HỰU TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 - 1975)
I- THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ
(1954 - 1960)
1- Chi bộ Đảng chuyển phương thức hoạt động từ công khai sang bí mật,
sắp xếp tổ chức và lực lượng phù hợp với tình hình mới.
Đầu năm 1954, đồng chí Năm Hoàng, Bí thư chi bộ được Huyện ủy Gò
Công điều động nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Nguyễn Văn Hồng được chi bộ
bầu làm Bí thư. Đồng chí Nguyễn Hữu Đằng (Tư Paul) làm Phó Bí thư; các
đồng chí Võ Văn Ri, Ba Chí Công, Lê Công Chánh (Tám Lác) làm chi ủy viên.
Số đảng viên là 32 đồng chí. Thực hiện chủ trương của Huyện ủy, làng Vĩnh
Hựu được sáp nhập thêm một phần ấp Thượng của làng Vĩnh Lợi, một phần của
làng Long Hựu thành xã Hựu Lợi. Làng Vĩnh Hựu cũ được mở rộng về diện tích
và quy mô dân số, có vị trí quan trọng về kinh tế, quân sự của khu vực.
Ngay sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (20-7-1954), chi bộ Đảng xã Hựu Lợi đã
lãnh đạo Ủy ban hành chính kháng chiến, Mặt trận và các đoàn thể chính trị tiếp
tục tiến hành cải cách ruộng đất theo Cương lĩnh của Đảng và chính sách lớn
của Mặt trận Việt Minh, nhưng việc thực hiện còn hạn chế do hoàn cảnh chiến
tranh. Toàn bộ ruộng đất của Việt gian, địa chủ ngoan cố bị chính quyền cách
mạng tuyên bố tịch thu, chia cho nông dân. Đồng thời cấp giấy chứng nhận
ruộng đất cho nông dân được cách mạng chia cấp từ sau Cách mạng Tháng Tám
đến 1954 và tổ chức đợt học tập Hiệp định Giơ-ne-vơ cho quần chúng nhằm
trang bị cơ sở pháp lý cho quần chúng đấu tranh chính trị với địch. Chi bộ đã
khẩn trương lãnh đạo việc tổ chức đưa 39 cán bộ, chiến sĩ đi tập kết; lựa chọn
đảng viên trung niên nhất tổ chức chi bộ bí mật; đưa một số đảng viên ra hoạt
động công khai, hợp pháp với địch. Giải tán Ủy ban hành chính kháng chiến,
Mặt trận và các đoàn thể chính trị, lực lượng vũ trang và chuyển sang hình thức
tổ chức mới như: Hội tương tế, Hội ái hữu, Hội vần đổi công, Hội cấy, Hội đình
... để duy trì lực lượng hợp pháp theo tinh thần Hiệp định Giơ-ne-vơ. Chi bộ
Đảng chuyển từ phương thức hoạt động công khai, lãnh đạo chính quyền, Mặt
trận, đoàn thể, lực lượng vũ trang sang phương thức hoạt động bí mật, bất hợp
pháp với địch. Chỉ trong một thời gian ngắn, chi bộ đã hoàn thành nhiều công
việc quan trọng để bảo vệ quyền lợi dân sinh, dân chủ cho nhân dân; bố trí, sắp
xếp lại lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh mới.
Cảnh giác trước âm mưu phản bội Hiệp định của chính quyền Mỹ - Diệm,
chi bộ đã lãnh đạo du kích vô dầu mở, đóng thùng chôn cất một số vũ khí ở ấp
35
Hựu Thạnh. Đồng thời thay tên đổi họ những cán bộ, đảng viên hợp pháp để bảo
tồn lực lượng.
Về tình hình xã hội, xã Vĩnh Hựu những ngày đầu sau Hiệp định diễn ra
lành mạnh, số địa chủ ngoan cố dựa vào thế lực thực dân Pháp như hội đồng
Thà, hội đồng Đông và số Việt gian đều bỏ chạy cầu an. Bộ máy hội tề xã còn
lại hầu hết là những người có tư tưởng tiến bộ, thân thiện với cách mạng, với
nhân dân. Các tầng lớp nhân dân Vĩnh Hựu đều tỏ thái độ phấn khởi, hòa hợp,
đoàn kết trong tình dân tộc, nghĩa đồng bào, mừng nền hòa bình được vãn hồi,
chấm dứt 9 năm bom rơi đạn lạc. Quyền dân sinh, dân chủ do cách mạng và
kháng chiến đem lại đã bồi đắp niềm tin của nhân dân với Đảng và Chính phủ.
Đó là dấu ấn sâu sắc trong mỗi cuộc đời người dân Vĩnh Hựu không thể phai
mờ.
Với tư thế của người chiến thắng và phấn khởi về những thành quả to lớn
của cách mạng, nhân dân đã hăng hái tăng gia sản xuất, cất lại nhà cửa, sửa sang
xóm ấp, xây dựng cuộc sống mới. Vụ mùa năm 1954, nhân dân Vĩnh Hựu trúng
mùa lớn đã giúp cho mỗi gia đình sớm có đời sống kinh tế ổn định sau 9 năm
chiến tranh tàn phá khốc liệt. Hoạt động văn hóa - văn nghệ vốn là thế mạnh của
Vĩnh Hựu, nay có điều kiện thuận lợi bừng dậy. Nhiều tiết mục văn nghệ, thơ
ca, hò vè ca ngợi tình cảm quân dân; tình dân nghĩa Đảng cao cả được các đội
văn nghệ ấp, đội văn nghệ xã sáng tác, tình diễn giúp nhân dân ôn lại những năm
tháng cách mạng hào hùng, cảm động, giáo dục đạo lý, lẽ sống cao đẹp và khích
lệ quần chúng đoàn kết, bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được. Bầu không
khí tương đối ôn hòa giữa nhân dân với chính quyền Mỹ - Diệm được duy trì từ
sau hiệp định Giơ-ne-vơ đến tết Nguyên Đán 1955. Trong những ngày tết
Nguyên Đán, cán bộ kháng chiến có dịp đi thăm hỏi nhân dân, nhất là những gia
đình nòng cốt quần chúng nồng ấm nghĩa tình. Nhân dịp gặp gỡ binh sĩ, nhân
viên ngụy quyền về gia đình, họ tộc vui tết, cán bộ và quần chúng đã tranh thủ
khơi gợi tình dân tộc, nghĩa đồng bào giác ngộ cảm hóa họ không làm điều ác
với nhân dân, lập công với cách mạng theo khả năng của mình. Cuộc vận động
diễn ra nhẹ nhàng trong không khí hòa hợp dân tộc và tết cổ truyền thiêng liêng
đã có tác dụng thức tỉnh quan trọng đối với binh sĩ, có người trở thành nội tuyến
của ta, có người tìm lý do rời khỏi bộ máy ngụy quân, ngụy quyền ra làm ăn và
có người giữ thái độ thân thiện với quần chúng lâu dài.
2- Cuộc đấu tranh chính trị thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, chống chính
sách phản động của chính quyền Mỹ-Diệm.
Đầu năm 1955, Ngô Đình Diệm đã cơ bản thâu tóm được thế lực trong
bộ máy chính quyền Trung ương ngụy quyền Sài Gòn. Chính phủ Ngô Đình
Diệm tiến hành xây dựng, củng cố bộ máy chính quyền tư tỉnh đến quận, xã và
ban hành nhiều chính sách nhằm phục hồi cơ sở kinh tế-xã hội của chính quyền
tay sai. Về bộ máy chính quyền, để tỏ ra dân chủ với nhân dân nên Ngô Đình
36
Diệm áp dụng chế độ bầu cử các chức danh chủ chốt trong bộ máy chính quyền
xã. Đồng thời, chúng thành lập các tổ chức chính trị như "Đảng Cần lao Nhân
vị"; "Thanh niên cộng hòa";Phụ nữ liên đới; "Nghiệp đoàn nông dân" ... để tập
hợp và khống chế quần chúng. Về chính sách, Ngô Đình Diệm ban hành Chỉ dụ
số 2 và Chỉ dụ số 7 nhằm phục hồi nguyên trạng ruỗng đất của địa chủ trước
Cách mạng Tháng Tám và các hình thức bóc lột phong kiến. Sự mâu thuẫn giữa
hình thức "dân chủ" chính trị với chính sách kinh tế phản tiến bộ đã phơi bày
bản chất phản cách mạng của chính quyền Mỹ - Diệm. Sự "dân chủ" về chính trị
chỉ là hình thức giả tạo, âm mưu tước đoạt thành quả cách mạng, trong đó vấn
đề cơ bản nhất là tướt đoạt lại ruộng đất của nông dân đã nói lên bản chất áp
bức, bóc lột của chế độ Mỹ - Diệm. Đây là sự tuyên chiến đầu tiên của Mỹ -
Diệm với giai cấp nông dân miền Nam nói chung và nông dân Vĩnh Hựu nói
riêng.
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Gò Công và Huyện ủy Hòa Đồng, chi
bộ Đảng xã Vĩnh Hựu (sau khi tách xã Hựu Lợi thành 2 xã Vĩnh Hựu và Vĩnh
Lợi) đã nhạy bén khai thác thủ đoạn mị dân của chính quyền Mỹ - Diệm, lãnh
đạo quần chúng giới thiệu những quần chúng nòng cốt, kể cả đảng viên hợp
pháp ứng cử vào các chức danh hội đồng xã và các tổ chức chính trị. Cuộc vận
động của chi bộ đã được quần chúng hưởng ứng, một số người được quần chúng
tín nhiệm đã thắng cử, nắm những chức danh quan trọng trong bộ máy chính
quyền, buộc địch phải miễn cưỡng thừa nhận. Thành công trong việc cài đặt "hạt
nhân đỏ" vào bộ máy chính quyền địch giúp chi bộ nắm được tình hình, phân
hóa địch và lãnh đạo quần chúng đấu tranh kịp thời, hiệu quả. Thông qua các tổ
chức quần chúng, chi bộ vận động nông dân kiên quyết đấu tranh chống Chỉ dụ
số 2 và Chỉ dụ số 7 của Chính phủ Ngô Đình Diệm, đòi giữ nguyên canh ruộng
đất như sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tôn trọng việc cấp ruộng đất của chính quyền
cách mạng. Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng bước đầu làm chính
quyền địch và một số địa chủ ngoan cố phải núng thế. Hiện trạng ruộng đất và
các quyền dân sinh, dân chủ cơ bản của nhân dân được giữ vững suốt năm 1955.
Để chuẩn bị cho cuộc "trưng cầu dân ý" giả hiệu, chính quyền địch mở
cuộc tuyên truyền rầm rộ từ giữa năm 1955. Cuộc "trưng cầu dân ý" thực chất
nhằm truất phế ngôi vị Quốc trưởng bù nhìn Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên
thâu tóm toàn bộ quyền lực trong bộ máy chính quyền Trung ương theo ý đồ của
đế quốc Mỹ. Ngày 26-10-1955, cuộc "trưng cầu dân ý" diễn ra khắp các địa
phương miền Nam. Chống lại âm mưu và thủ đoạn chính trị lừa phỉnh của địch,
chi bộ Đảng đã đẩy mạnh tuyên truyền vạch trần bản chất của cuộc "trưng cầu
dân ý", vận động nhân dân tìm mọi cách tẩy chay. Suốt từ sáng tới trưa ngày 26-
10, mặc dù chính quyền địch xua lính tới từng nhà thúc ép nhân dân tới điểm bỏ
phiếu, nhưng mọi người đều tìm lý do trốn tránh, mang cuốc phảng ra đồng. Bất
lực trước cuộc đấu tranh của nhân dân, xã trưởng xin xe nồi đồng tới uy hiếp và
sai lính đi dồn dân về bỏ phiếu. Lúc này, chi bộ vận động quần chúng chấp nhận
đi bỏ phiếu, nhưng biến lá phiếu thành bất hợp lệ bằng cách bấm lủng mắt ảnh
37
Diệm, trét cổ trầu lên ảnh Diệm trước khi bỏ vào thùng phiếu để bày tỏ thái độ.
Việc làm trên vừa bảo vệ được quần chúng, vừa làm địch lúng túng, cay cú.
Dọn đường cho cuộc bầu cử Quốc hội riêng rẽ, từ cuối năm 1955, chính
quyền địch bắt đầu tiến hành chính sách "tố cộng, diệt cộng". Chúng lập ra tổ
chức "ngũ gia", "liên gia" và đoàn ngũ hóa quần chúng vào các tổ chức chính trị;
điều tra, phân loại các hộ nhân dân để theo dõi, khống chế. Những cán bộ kháng
chiến và thân nhân của họ, nhất là thân nhân cán bộ tập kết đều bị chính quyền
địch bắt học tập kiểu nhồi sọ tư tưởng "quốc gia" mập mờ, phản cách mạng như:
"kháng chiến là có công, cộng sản là có tội"; bôi nhọ Chính phủ Hồ Chí Minh;
ca ngợi đế quốc Mỹ và "Chính phủ Việt Nam Cộng hòa" ... Ngày 4-3-1956,
cuộc bầu cử Quốc hội do chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức diễn ra khắp các
địa phương miền Nam.
Chống lại âm mưu bầu cử riêng rẽ nhằm chia cắt đất nước của Mỹ -
Diệm, chi bộ Đảng xã Vĩnh Hựu đã kiên trì vận động quần chúng đấu tranh
chính trị đòi chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định
Giơ-ne-vơ. Nhân dân Vĩnh Hựu đã viết hàng trăm đơn tố cáo chính quyền địch
vi phạm Hiệp định gởi Ủy hội quốc tế tại Sài Gòn; đấu tranh chống bầu cử Quốc
hội riêng rẽ, đòi hiệp thương thống nhất đất nước. Riêng ngày 4-3-1956, chi bộ
đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh quyết liệt với chính quyền địch, tìm cách không
đi bỏ phiếu. Khẩu hiệu tuyên truyền của chi bộ được chuyển thể thành ca dao để
quần chúng dễ nhớ, dễ thuộc:
"Con ơi nghe lấy lời cha
Con mà muốn chết tháng ba đi bầu
Con mà muốn sống ở đời
Tháng ba ngày bốn đừng bầu đừng đi"
Đêm mồng 3 rạng sáng 4-3, các chiến sĩ xung phong tuyên truyền đã căng
biểu ngữ, rải truyền đơn và dùng loa phát lời kêu gọi của chi bộ Đảng: "Hỡi
đồng bào! Mai là ngày bầu cử Quốc hội bù nhìn nhằm phá hoại hiệp thương
tổng tuyển cử thống nhất đất nước, gây chiến tranh sát hại đồng bào. Nhân danh
chiến sĩ bảo vệ hòa bình, chúng tôi kêu gọi toàn thể đồng bào kiên quyết tẩy
chay cuộc bầu cử, không đi bỏ phiếu cho chính quyền chia cắt đất nước ! ...".
Anh Ba Ở, đoàn viên Thanh niên lao động ...... đã bị quản Lù bắn bị thương khi
đang rải truyền đơn, căng biểu ngữ. Hưởng ứng lời kêu gọi của chi bộ Đảng,
nhân dân xã Vĩnh Hựu đã tìm mọi cách tránh né, không đi bỏ phiếu. Mặc dù
chính quyền địch cho lính đi từng nhà, từng ấp thúc ép và bắt lính bỏ phiếu gian
lận, nhưng tới 3 giờ chiều số phiếu đạt tỷ lệ rất thấp. Chúng điên loạn xin tăng
viện hai xe nồi đồng tràn vào các xóm ấp, xả súng bừa bãi vào khu dân cư lùa
dân đi bỏ phiếu. Để bảo vệ tính mạng và sự hợp pháp của quần chúng, chi bộ đã
38
chủ trương để quần chúng đi bầu cử nhưng làm cho lá phiếu không hợp lệ. Cuối
cùng, do sự gian lận của địch, cuộc bầu cử trên lưỡi lê, họng súng vẫn được
công bố thành công. Song cuộc đấu tranh chính trị thống nhất, mạnh mẽ của
quần chúng do chi bộ Đảng Vĩnh Hựu lãnh đạo đã làm cho địch phải nể sợ, lúng
túng.
Sau cuộc bầu cử Quốc hội, bộ mặt thật của chính quyền Mỹ - Diệm hiện
nguyên hình bản chất phản động, hiếu chiến. Chúng tỏ thái độ hằn học, đố kỵ
với phe xã hội chủ nghĩa và Chính phủ Hồ Chí Minh; trả thù hèn hạ những
người tham gia kháng chiến chống Pháp xâm lược, những người có tư tưởng tiến
bộ, yêu nước thương nòi. Chính sách "tố cộng, diệt cộng" được nâng lên thành
"quốc sách" của chính quyền Mỹ - Diệm. Khẩu hiệu hành động của chúng trong
quốc sách "tố cộng, diệt cộng" là “diệt cộng để kiến quốc”, “Bắc tiến để thống
nhất đất nước”; "giết nhầm chứ không bỏ sót". Mở đầu chiến dịch "tố cộng, diệt
cộng" tại xã Vĩnh Hựu, địch bất ngờ vây bắt 3 cán bộ, đảng viên: Nguyễn Văn
Hồng , Võ Văn Ri, Nguyễn Hữu Đằng (Tư Paul) ngày 26-3-1956. Sau khi bắt
được các đồng chí này, bọn địch rất hí hửng vì cho rằng đã bắt được Cộng sản
gộc nên đã đánh các đồng chí một cách dã man, dùng lưỡi lê đâm nát đùi trái
của đồng chí Võ Văn Ri. Hai ngày sau, địch bí mật thủ tiêu hai đồng chí Nguyễn
Văn Hồng, Võ Văn Ri tại xóm Bờ Dầu, ấp Vĩnh Quý và tống giam đồng chí
Nguyễn Hữu Đằng (tự Tư Paul). Đồng thời, vây ráp bắt bớ gần 100 cán bộ,
chiến sĩ kháng chiến, thân nhân cán bộ tập kết đi học tập trung tại các trại "cải
huấn". Chúng bắt tất cả quần chúng học quốc sách "tố cộng, diệt cộng", thân
nhân gia đình cách mạng ban đêm phải ngủ tập trung tại đồn. Các quyền dân
sinh, dân chủ cơ bản của nhân dân đều bị chính quyền Mỹ - Diệm tước đoạt.
Tên Nguyễn Thiết Hùng, Trưởng cảnh sát xã Vĩnh Hựu được Quận trưởng Văng
Văn Thống tin dùng có nhiều mưu mô chống cộng cực kỳ nguy hiểm. Hắn vừa
thông thạo địa bàn, vừa thuộc lòng tên tuổi, lý lịch từng hộ dân, nhất là gia đình
cách mạng và biết rõ đặc điểm của từng cán bộ, đảng viên trong xã. Quyền hạn
của xã trưởng, quận trưởng được chính quyền Diệm quy định gần như vô hạn
trong việc bắt bớ, tra tấn, giam giữ kể cả bắn giết người không cần phán quyết
của tòa án. Lực lượng công dân vụ, cảnh sát, liên gia, ngũ gia và các tổ chức
chính trị của địch ráo riết tiến hành phân loại quần chúng để kiểm soát, khống
chế, khủng bố tinh thần yêu nước, tha hóa thanh - thiếu niên và làm biến chất
những cán bộ kháng chiến có tư tưởng dao động phục vụ chính sách phản cách
mạng của Mỹ - Diệm. Một số cán bộ kháng chiến được Đảng sắp xếp ở lại lãnh
đạo quần chúng đấu tranh chính trị đã bị sa vào cạm bẫy của địch, xé cờ Đảng,
tuyên bố ly khai cộng sản, làm tờ phản tỉnh nhằm xuyên tạc, vụ cáo Đảng; khai
báo cán bộ, đảng viên bí mật và lực lượng nội tuyến, gia đình cơ sở cách mạng.
Có kẻ còn tham gia ban "chiêu an chống cộng" trở thành tay sai đắc lực cho
giặc. Do vậy, chi bộ Đảng và lực lượng nòng cốt quần chúng xã Vĩnh Hựu bị
tổn thất nặng nề trong chiến dịch "tố cộng, diệt cộng" từ giữa năm 1956 đến cuối
năm 1959.
39
Trong tình huống vô cùng khó khăn của cách mạng, các đồng chí đảng
viên bí mật của chi bộ còn bám trụ như Tư Chà, Bảy Bền, Sáu Đang ... vẫn kiên
trì hoạt động. Chủ trương của chi bộ lúc này là: cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối
trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng; giữ vững khí tiết người chiến sĩ
cách mạng; duy trì mối quan hệ với quần chúng nòng cốt và lãnh đạo các tổ
chức quần chúng hợp pháp đấu tranh chính trị với địch; đẩy mạnh công tác binh
- ngụy vận nhằm cảm hóa từng đối tượng với những mức độ khác nhau, phân
hóa địch.
Thực hiện chủ trương trên, các đảng viên luôn bám sát quần chúng để
tuyên truyền, giác ngộ, củng cố niềm tin vào Đảng, tin ở cách mạng. Đồng thời,
tổ chức gia đình nòng cốt làm hầm bí mật, làm vách đôi để chở che, nuôi giấu
đảng viên bí mật. Mặc dù bị địch o ép, khủng bố khốc liệt, nhưng hầu hết nhân
dân Vĩnh Hựu đã trưởng thành trong đấu tranh cách mạng, được thừa hưởng
những thành quả cách mạng đem lại và được sống trong những ngày Cách mạng
Tháng Tám; Những tháng ngày thắng lợi hào hùng, sau 9 năm kháng chiến,
buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ nên miền tin của quần chúng
với Đảng không thể phai mờ. Nhiều quần chúng nòng cốt vẫn bất chấp hiểm
nguy đem cả tính mạng, tài sản của gia đình để bảo vệ, chở che, nuôi giấu cán
bộ, đảng viên hoạt động bất hợp pháp với địch. Tiêu biểu như má Sáu, bà Tư
Xuyến, Năm Gấm, Mười Khương, Năm Bổn, Kiểm Trọng, Hai Thường, Hương
sư Tống, Hai Chổi, Tám Vàng, Nhạc Tửng, Hương chánh Thành, Ba Bi, Ba
Lành, Ba Trầu ...
Lúc này tuy phong trào đấu tranh chính trị quần chúng không còn sôi nổi
như ngày đầu sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, mà phát triển về chiều sâu, nhiều quần
chúng nòng cốt đã khéo dùng lý lẽ sắc bén đấu tranh bảo vệ lẽ phải, chống sự
xuyên tạc của địch. Sau 3 năm tiến hành chính sách "tố cộng, diệt cộng" ác liệt,
cảnh sát xã Vĩnh Hựu vẫn lập danh sách báo cáo về quận trưởng tình hình bất ổn
về chính trị, đó là còn " 10 cán bộ Việt cộng đang hoạt động bất hợp pháp; 27
cán bộ Việt cộng thoát ly; 181 thân nhân Việt cộng còn tư tưởng chống “Chính
phủ quốc gia”; 112 người là cơ sở của Việt cộng; 65 người có tư tưởng lưng
chừng. Chính quyền địch đã làm mọi cách chúng có thể làm nhưng vẫn bất lực
trước tinh thần cách mạng sắt đá của nhân dân, buộc chúng phải thừa nhận sự
thật cay đắng.
Càng bất lực, chính quyền các cấp của địch càng tỏ ra hằn học, hiếu chiến.
Từ giữa năm 1959, chính quyền Diệm ban hành Đạo luật số 91 (được gọi là
Luật 10-59) để khép tội và khủng bố những người Cộng sản hoặc nghi can có
dính líu với Cộng sản, mức hình phạt từ tử hình bằng máy chém kiểu thời trung
cổ đến chung thân khổ sai. Luật 10-59 được coi là đỉnh điểm của chính sách cai
trị vô nhân đạo mà Mỹ - Diệm áp đặt với nhân dân miền Nam trong chiến lược
"chiến tranh một phía" của chúng. Chính quyền địch xã Vĩnh Hựu coi đây là thứ
bảo bối để bóp chết quần chúng cách mạng và xóa sạnh tư tưởng cách mạng
40
trong đầu mỗi người dân. Chúng bắt nhân dân học tập Luật 10-59 và làm bản
cam kết không chứa chấp Việt cộng; phát hiện và tố cáo những ai tiếp tay cho
Việt cộng ... Chúng tìm cách chia rẽ, xáo trộn nhân tâm; xóm giềng theo dõi,
nghi kị lẫn nhau, thậm chí vợ, chồng, cha, con trong gia đình cũng không tin
nhau. Một không khí khủng bố trắng bao trùm khắp mọi xóm ấp trong xã.
Nhằm bảo tồn lực lượng cán bộ, đảng viên của chi bộ Đảng và bảo vệ
quần chúng cơ sở, nòng cốt cách mạng, chủ trương " điều lắng" đưa cán bộ,
đảng viên hoạt động bí mật đi nơi khác "mai danh ẩn tích" đã thực hiện nhiều
đợt trong những năm trước, nay được thực hiện triệt để. Kể từ giữa năm 1959,
đảng viên của chi bộ Đảng Vĩnh Hựu phải tạm thời rời địa bàn, chờ thời cơ trở
lại hoạt động. Nhân dân xã Vĩnh Hựu nói riêng và nhân dân miền Nam nói
chung đều tỏ thái độ bất bình, căm phẩn sâu sắc với chính sách vô nhân đạo,
phản tiến bộ của chính quyền Mỹ - Diệm. Mỹ - Diệm muốn dùng bạo lực phản
cách mạng để tách nhân dân ra khỏi ảnh hưởng của Đảng, nhưng chính những
chính sách hiếu chiến quân phiệt đó càng thôi thúc nhân dân hướng về Đảng,
Bác Hồ và nóng lòng trông đợi đường lối cách mạng mới dẫn dắt quần chúng
vùng lên giải phóng quê hương. Đó là nhu cầu và nguyện vọng bức xúc của
hàng chục triệu quần chúng cách mạng .
Qua 6 năm đấu tranh chính trị thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, phong trào
cách mạng và nhiều thành quả cách mạng mà chi bộ Đảng và nhân dân Vĩnh
Hựu giành được bị tổn thất nặng nề, nhưng qua thực tiễn đấu tranh, đảng viên và
quần chúng có bước trưởng thành quan trọng về nhận thức tư tưởng. Mọi người
đều thấm thía rằng hạnh phúc của bản thân và gia đình, dân tộc chỉ được bảo
đảm trong đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Một khi phong trào
cách mạng bị khủng hoảng và thiếu sự lãnh đạo của Đảng thì quần chúng nhân
dân sẽ bị các thế lực phản cách mạng chà đạp. Đó là bài học xương máu mà
đảng viên và nhân dân Vĩnh Hựu đã đúc rút qua 6 năm phải sống quằn quại dưới
chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ - Diệm.
Bài học lịch sử sống còn của đảng viên và nhân dân Vĩnh Hựu đã được
các thế hệ khắc ghi, một lòng theo Đảng cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách
mạng vẻ vang.


