ĐẶNG ĐÌNH HỒ – DŨNG SĨ HỒNG CÚM, MŨI XUNG KÍCH THÉP GIỮA LỬA ĐẠN ĐIỆN BIÊN
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đặng Đình Hồ (1925–2004) quê Thanh Chương, Nghệ An, là một trong những chiến sĩ tiêu biểu của Trung đoàn 57, Đại đoàn 304 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tại mặt trận Hồng Cúm, ông nhiều lần dẫn đầu lực lượng xung kích, chiến đấu dũng cảm, táo bạo; dù bị thương ở mắt phải và tay phải vẫn kiên quyết bám trận địa, tiếp tục chỉ huy đồng đội mở cửa đột phá. Sau chiến dịch, ông kiên trì tập bắn bằng tay trái và tiếp tục rèn luyện. Ngày 7/5/1956, Đặng Đình Hồ được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trở thành một trong những biểu tượng của tinh thần “Quyết chiến – Quyết thắng” trên chiến trường Điện Biên Phủ.

Trong bản anh hùng ca Điện Biên Phủ năm 1954, mỗi ngọn đồi, mỗi chiến hào đều ghi dấu những con người đã đem tuổi trẻ, máu xương và lòng quả cảm làm nên chiến thắng. Nếu Him Lam, Độc Lập, A1 là những địa danh gắn với những trận đánh vang dội, thì ở phía Nam lòng chảo Điện Biên, Hồng Cúm cũng là một chiến trường đặc biệt ác liệt. Chính tại nơi ấy, người chiến sĩ xứ Nghệ Đặng Đình Hồ đã chiến đấu với tinh thần quả cảm, táo bạo, bị thương vẫn không rời trận địa, góp phần siết chặt vòng vây và đánh sập một trong những cứ điểm quan trọng của quân Pháp.
Từ cậu bé mồ côi đến người lính xung kích
Đặng Đình Hồ sinh năm 1925, quê tại vùng Thanh Chương, Nghệ An. Tuổi thơ của ông là chuỗi ngày cơ cực. Cha mẹ mất sớm, em trai chết đói, từ nhỏ ông đã phải chăn trâu, cắt cỏ thuê để kiếm sống.
Cách mạng Tháng Tám thành công mở ra một chân trời mới đối với người thanh niên nghèo xứ Nghệ. Nhưng nền độc lập non trẻ nhanh chóng đứng trước thử thách khi thực dân Pháp quay trở lại tiến hành chiến tranh xâm lược.
Chứng kiến quê hương bị tàn phá, đồng bào bị giết hại, năm 1950, Đặng Đình Hồ lên đường nhập ngũ.
Từ đây, người thanh niên từng quen với ruộng đồng bước vào những năm tháng trận mạc. Ông tham gia nhiều trận đánh, từ Đồi Mồi trong Chiến dịch Hòa Bình, Lạc Quần trong Chiến dịch Hà Nam Ninh đến Tuy Lộc Thượng ở Ninh Bình. Qua chiến đấu, từ một người lính xung kích, Đặng Đình Hồ ngày càng trưởng thành về bản lĩnh và kinh nghiệm trận mạc.
Đến năm 1954, ông cùng Trung đoàn 57, Đại đoàn 304 tiến về Điện Biên Phủ.
Kéo pháo vào – kéo pháo ra
Trước khi trực tiếp chiến đấu tại Hồng Cúm, Đặng Đình Hồ và cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 418 được điều động tham gia kéo pháo vào trận địa.
Những khẩu pháo nặng nề phải vượt qua những con đường mới mở, đèo cao, dốc sâu, khe suối lầy lội và những khu vực thường xuyên bị máy bay Pháp đánh phá.
Nhưng trong suy nghĩ của những người lính lúc ấy chỉ có một quyết tâm:
“Bằng mọi giá phải đem được pháo vào trận địa!”
Sau hai ngày, bốn khẩu pháo 105mm được đưa vào vị trí an toàn.
Rồi một mệnh lệnh bất ngờ truyền xuống: kéo pháo ra.
Kéo vào đã khó, kéo ra còn gian khổ hơn. Nhưng quân lệnh như sơn. Những người lính lại ghì dây, bám dốc, đưa từng khẩu pháo trở ra an toàn. Đằng sau quyết định ấy là sự thay đổi phương châm tác chiến của Bộ Chỉ huy Chiến dịch – từ dự kiến ban đầu sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”.
Lập công ngay trận đầu
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo, đơn vị của Đặng Đình Hồ được giao án ngữ khu vực cửa rừng Hồng Lếch.
Ngày 6/2/1954, quân Pháp đưa lực lượng Âu – Phi từ Mường Thanh tiến ra, tìm cách bao vây trận địa của ta.
Cuộc chiến nhanh chóng chuyển thành những trận giáp lá cà quyết liệt.
Đặng Đình Hồ được giao dẫn lực lượng bất ngờ thọc vào mũi tiến công của đối phương ở sườn đồi. Sự phối hợp giữa bộ binh, hỏa lực và cả những chiến sĩ nuôi quân đã buộc quân Pháp phải rút lui.
Ngay trận đầu tiên chiến đấu tại Điện Biên Phủ, Đặng Đình Hồ đã lập công và được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì.
Nhưng những thử thách lớn nhất vẫn còn ở phía trước.
Siết vòng vây quanh Hồng Cúm
Hồng Cúm, được quân Pháp gọi là Isabelle, giữ vị trí quan trọng ở phía Nam Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây vừa là một khu phòng ngự mạnh, vừa có thể trở thành cửa rút lui sang Thượng Lào nếu quân Pháp thất bại.
Trung đoàn 57 được giao nhiệm vụ xây dựng hệ thống chiến hào bao vây Hồng Cúm.
Đêm xuống, những người lính rời nơi trú ẩn, tiến sát cứ điểm, đào từng hố cá nhân rồi nối chúng lại thành chiến hào.
Đêm đào, ngày nghỉ.
Từng mét đất được mở ra dưới bom pháo.
Đặng Đình Hồ cùng đồng đội kiên trì suốt nhiều đêm. Đến ngày 23/3/1954, hệ thống giao thông hào và chiến hào đã tạo thành một thế trận liên hoàn bao quanh Hồng Cúm, góp phần cắt khu vực này khỏi phân khu trung tâm và khống chế hoạt động của sân bay.
Vòng vây ngày một khép chặt.
Hồng Cúm từ một “cánh cửa hậu” của quân Pháp dần trở thành một chiếc bẫy mà chính họ bị mắc kẹt bên trong.
Mũi xung kích giữa mưa bom
Ngày 30/4/1954, đơn vị của Đặng Đình Hồ nhận nhiệm vụ đánh vào khu C của Hồng Cúm.
Từ đầu chiến hào, ông dẫn mũi tiến công xông lên.
Quân Pháp tập trung súng cối và pháo binh bắn dữ dội nhằm chặn bước tiến của bộ đội Việt Nam. Nhưng giữa những tiếng nổ rung chuyển trận địa, Đặng Đình Hồ và đồng đội vẫn tiếp tục thọc sâu.
Hai bên giằng co bằng thủ pháo, tiểu liên và lưỡi lê.
Quân Pháp bị đánh bật khỏi một phần trận địa.
Đơn vị sau đó được trao lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” – một phần thưởng đầy ý nghĩa giữa những ngày chiến dịch bước vào giai đoạn quyết định.
Bị thương vẫn không rời trận địa
Trong cuộc tiến công tiếp theo vào Hồng Cúm, Đặng Đình Hồ cùng đồng đội bí mật áp sát hàng rào, phá dây thép gai và dùng hỏa lực đánh vào các ụ súng của quân Pháp.
Nhưng cửa mở bị hỏa lực đối phương tập trung đánh phá.
Nhiều chiến sĩ ngã xuống.
Bộc phá cạn dần.
Đặng Đình Hồ lúc ấy bị thương ở mắt phải và tay phải.
Với một người lính xung kích, đó là những vết thương nghiêm trọng. Nhưng ông không rời trận địa.
Ông tiếp tục chỉ huy.
Khi bộc phá được đưa lên, Đặng Đình Hồ cùng đồng đội tiếp tục phá các lớp hàng rào, mở đường cho lực lượng phía sau xông vào tung thâm.
Tinh thần của người chỉ huy bị thương nhưng vẫn bám trận địa trở thành nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với những người lính đang chiến đấu bên cạnh.
Quân ta từng bước làm chủ khu C, thu hẹp phạm vi phòng thủ của đối phương. Đến đêm 7/5/1954, lực lượng quân Pháp tại Hồng Cúm bị tiêu diệt và bắt giữ, khép lại sự tồn tại của phân khu phía Nam trong Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
“Nhanh như sóc, mạnh như hổ”
Điều đáng khâm phục ở Đặng Đình Hồ không chỉ nằm trong những lần xung phong giữa lửa đạn.
Sau chiến đấu, thương tích khiến mắt phải của ông bị hỏng và tay phải suy yếu. Nhưng người chiến sĩ ấy không đầu hàng thương tật. Ông kiên trì tập bắn bằng tay trái và cuối cùng đã thành công.
Đồng đội từng ví ông “nhanh như sóc, mạnh như hổ” – một cách gọi giản dị nhưng thể hiện rõ phẩm chất của người chiến sĩ xung kích: nhanh nhẹn, gan dạ, quyết đoán và luôn có mặt ở nơi khó khăn nhất.
Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đặng Đình Hồ được tặng hai Huân chương Chiến công hạng Nhì, nhiều lần được các cấp biểu dương, khen thưởng và được bầu là Chiến sĩ thi đua của Trung đoàn 57.
Ngày 7/5/1956, ông được tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Đặng Đình Hồ đã đi một hành trình dài từ cậu bé mồ côi nghèo khó trên quê hương xứ Nghệ đến người chiến sĩ anh hùng giữa chiến trường Điện Biên.
Ở Hồng Cúm năm ấy, giữa những lớp hàng rào thép gai, những chiến hào đầy bùn đất và mưa pháo không ngừng nghỉ, ông cùng đồng đội đã tiến từng bước về phía trước.
Bị thương vẫn chiến đấu.
Tay phải yếu thì tập bắn bằng tay trái.
Trước hỏa lực đối phương vẫn kiên quyết mở đường cho đồng đội tiến lên.
Đó chính là phẩm chất đã làm nên những người lính Điện Biên.
Và giữa bản anh hùng ca “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, tên tuổi Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đặng Đình Hồ mãi gắn với Hồng Cúm – nơi một người lính xứ Nghệ đã viết nên câu chuyện đẹp về ý chí, lòng quả cảm và tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Bộ đội Cụ Hồ.



