Đặng Nhật Minh
Lê Khánh Ngọc
Đặng Nhật Minh (sinh ngày 11 tháng 5 năm 1938) là một nhà làm phim kiêm chính trị gia, người Việt Nam đầu tiên nhận giải thưởng Thành tựu trọn đời tại một liên hoan phim quốc tế. Ông nổi tiếng với những bộ phim như Đừng đốt, Cô gái trên sông, Thương nhớ đồng quê, Mùa ổi; đặc biệt Bao giờ cho đến tháng Mười được nhiều hãng thông tấn đánh giá là một trong những phim châu Á hay nhất mọi thời đại. Ông được đánh giá là một trong những đạo diễn hàng đầu của điện ảnh Việt Nam.
Khởi đầu với những bộ phim tài liệu theo sự phân công của hãng phim và nhà nước Việt Nam, Đặng Nhật Minh dần có những tác phẩm cho riêng mình. Kiên trì với nguyên tắc chỉ đạo diễn những bộ phim do chính mình viết kịch bản, ông đã tạo nên những tác phẩm có sự đồng nhất về mặt biểu đạt cũng như mang đậm phong cách đặc trưng cá nhân. Ngoại trừ hai tác phẩm đầu tay, gần như toàn bộ các bộ phim điện ảnh của Đặng Nhật Minh đều giành được các giải thưởng trong và ngoài nước. Bên cạnh việc làm phim, ông còn từng là tổng thư ký Hội Điện ảnh Việt Nam.[1][2]
Thành công trong nước với Thị xã trong tầm tay, Đặng Nhật Minh bắt đầu được thế giới biết đến khi Bao giờ cho đến tháng Mười trở thành bộ phim Việt Nam đầu tiên được công chiếu tại Hoa Kỳ và nhận được giải thưởng của Ủy ban Bảo vệ hòa bình tại Liên hoan phim quốc tế Moskva diễn ra tại Liên Xô. Sau đó, Thương nhớ đồng quê đã giúp ông khẳng định vị trí của mình khi chiến thắng giải Kodak tại Liên hoan phim châu Á-Thái Bình Dương, giải châu Á hay nhất của NETPAC tại Liên hoan phim quốc tế Rotterdam cùng hàng loạt giải thưởng khác. Với những đóng góp cho điện ảnh Việt Nam, ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân cũng như được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh chuyên ngành điện ảnh và giải thưởng Lớn thuộc Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội.
Cuộc đời
Đặng Nhật Minh sinh ngày 11 tháng 5 năm 1938 tại Thừa Thiên – Huế.[3] Mẹ ông là bà Tôn Nữ Thị Cung, con gái của Tôn Thất Đàn, thượng thư bộ Hình dưới triều Khải Định.[4] Cha ông là Giáo sư Đặng Văn Ngữ, một bác sĩ đầu ngành nghiên cứu về ký sinh trùng của Việt Nam. Đặng Nhật Minh là con trai trưởng cùng với hai người em gái Đặng Nguyệt Ánh và Đặng Nguyệt Quý.[5] Hai năm sau khi cha ông qua đời tại Quảng Trị vào năm 1967, người em gái út Đặng Nguyệt Quý của ông cũng mất vì bệnh ở Liên Xô.[6] Người em gái thứ hai của ông, bà Đặng Nguyệt Ánh sau này lấy bằng tiến sĩ vật lý và công tác tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.[7]
Khi còn nhỏ, Đặng Nhật Minh chủ yếu sống ở quê nội và quê ngoại là An Cựu và Lại Thế. Sau khi kết thúc chương trình học 4 năm ở trường An Cựu, ông bắt đầu theo học Trường Khải Định (nay thường được gọi là Trường Quốc học Huế). Đến năm 1950, gia đình ông nhận được tin giáo sư Đặng Văn Ngữ đã trở về Việt Nam sau nhiều năm đi du học tại Nhật Bản, mẹ ông đã đưa ba anh em lên Việt Bắc để đoàn tụ.[8] Đặng Nhật Minh tiếp tục việc học ở Việt Bắc cho đến năm 14 tuổi thì được gửi đi học tại Trường Thiếu nhi Việt Nam ở Quế Lâm, Trung Quốc.[a] Chỉ 2 năm sau, khi Đặng Nhật Minh mới 16 tuổi và vẫn còn đang học tại Trung Quốc thì mẹ ông qua đời.[10][11]
Đặng Nhật Minh được bầu làm tổng thư ký (sau này là chủ tịch hội) tại Đại hội lần thứ 3 của Hội Điện ảnh Việt Nam vào tháng 2 năm 1989,[12][13] và đảm nhiệm vai trò này 2 nhiệm kỳ liên tiếp.[3] Đến năm 1993, ông trở thành Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 9 thuộc đoàn đại biểu Thanh Hóa.[14][15] Với nhiều thành công trong lĩnh vực phim ảnh, Đặng Nhật Minh thường xuyên trở thành giám khảo của các kỳ Liên hoan phim Việt Nam,[16][17] cũng như một số cuộc thi điện ảnh khác.[18][19] Tháng 3 năm 2023, ông được mời mở đầu hội thảo quốc tế "Chính sách và giải pháp phát triển ngành công nghiệp điện ảnh tại Việt Nam và Đông Nam Á" do Hiệp hội Phát hành và phổ biến phim Việt Nam tổ chức vào chiều ngày 14 tại Hà Nội.[20][21]
Sự nghiệp điện ảnh
Trong hồi ký của mình, Đặng Nhật Minh cho biết thành viên trong gia đình ông chủ yếu làm trong ngành y hoặc giáo dục, chỉ có một người am hiểu lĩnh vực văn hóa nghệ thuật là giáo sư Nguyễn Hồng Phong – chồng của nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Ngọc Trai, dì của Đặng Nhật Minh.[22] Chính người dượng này đã dẫn dắt Đặng Nhật Minh vào con đường nghệ thuật và được ông xem như người thầy đầu tiên.[23]
Bắt đầu sự nghiệp từ những năm 1960 và vẫn còn tiếp tục cho đến nay, Đặng Nhật Minh đã chứng kiến quá trình phát triển mạnh mẽ của điện ảnh Việt Nam trong thế kỷ 20. Các tác phẩm của ông cũng phản ánh nhiều biến động từ nhiều khía cạnh của việc làm phim ở Việt Nam.[24]
Khởi đầu
Sau 18 tháng theo học tại Liên Xô, Đặng Nhật Minh về nước và bắt đầu công việc làm phiên dịch viên tiếng Nga.[25] Theo lời kể của đạo diễn Đặng Nhật Minh, trong những người cùng trở về từ Liên Xô với ông thì có ba người được phân công về công tác tại Bộ Văn hóa, hai người khác được giữ lại làm phiên dịch cho lãnh đạo bộ và ông thì được phân công về làm phiên dịch tại Phát hành phim Trung ương để dịch lời thoại trong các phim Liên Xô.[26] Năm 1959, Trường Điện ảnh Việt Nam được thành lập và có sự hỗ trợ giảng dạy của một số đạo diễn đến từ Khối phía Đông. Đến năm 1962 khi các học viên khóa 1 chuẩn bị làm các bộ phim tốt nghiệp dưới sự hướng dẫn của Ajdai Ibraghimov (ru), một đạo diễn người Azerbaijan đến từ Liên Xô,[27] thì một phiên dịch viên của trường được cử sang Liên Xô du học.[28] Đặng Nhật Minh được phân công đến thay vị trí phiên dịch đó.[29] Không chỉ làm công việc phiên dịch tại trường, ông còn bắt tay dịch thuật những tác phẩm liên quan đến điện ảnh từ tiếng Nga. Từ đầu những năm 1960, Đặng Nhật Minh đã phiên dịch cuốn sách "Viết kịch bản phim truyện ngắn" của nhà văn Nga Yevgeny Gabrilovich (en) và đăng lên nhiều kỳ của tạp chí Điện ảnh Việt Nam.[30][31] Đến năm 1965, ông bắt đầu nghề đạo diễn với bộ phim tài liệu đầu tay Theo chân người địa chất.[32] Đây vốn là một tác phẩm tốt nghiệp của một nhóm học sinh Trường Điện ảnh Việt Nam mà ông được mời làm đạo diễn.[33]
Sau khi cha ông qua đời tại chiến trường Quảng Trị khi đang nghiên cứu thuốc chống sốt rét vào năm 1967,[34] ông trở thành con của liệt sĩ và được Bộ Văn hóa ưu tiên cho đi học đạo diễn ở Liên Xô, nhưng ông đã từ chối vì lo lắng cho gia đình do lúc bấy giờ Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn hai của Chiến tranh Đông Dương. Năm 1969, ông xin về Xưởng Phim truyện Việt Nam lúc bấy giờ đang đóng ở số 4 đường Thụy Khuê, Hà Nội.[26][35] Năm 1970, Đặng Nhật Minh cùng đạo diễn Nguyễn Đức Hinh thực hiện bộ phim Chị Nhung dựa trên bộ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Sáng.[36][37] Bộ phim đã nhận được bằng khen của Hội đồng giám khảo tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2,[38] một đề cử và một bằng khen tại Liên hoan phim quốc tế Moskva.[39] Đây không chỉ là bộ phim truyện ngắn duy nhất về đề tài miền Nam Việt Nam được khen thưởng tại một kỳ Liên hoan phim Việt Nam mà còn là bộ phim truyện ngắn được sản xuất trong giai đoạn chiến tranh duy nhất bán được ra nước ngoài trong giai đoạn này.[38] Năm 1974, ông được giao cho đạo diễn bộ phim truyện Những ngôi sao biển được chuyển thể từ vở kịch Người từ giã cuối cùng của tác giả Nguyễn Khắc Phụng. Mặc dù có chất liệu và ý đồ hình tượng nghệ thuật tốt, có tiềm năng trở thành một tác phẩm có bề dày và chiều sâu, nhưng bộ phim không mấy thành công bởi cốt truyện phim phát triển chậm, không có kịch tính của từng đoạn.[40] Sau sáu tháng được đào tạo ngắn hạn tại Bulgaria, ông quay về nước và bắt đầu thực hiện bộ phim Ngày mưa cuối năm chuyển thể từ vở kịch Những người bóc đá của Hồng Phi. Bộ phim này cũng không gây được tiếng vang gì dù thời điểm đó ông là một đạo diễn có bằng cấp.[41]
Bước đầu thành công
Tối ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đặng Nhật Minh cùng đoàn quay phim của Xưởng phim truyện đã có mặt tại Dinh Độc Lập. Ngay ngày hôm sau, ông cùng đoàn phim của mình bắt đầu ghi lại những hình ảnh đầu tiên cho phim tài liệu Tháng Năm – Những gương mặt. Bộ phim mô tả hai hình ảnh đối lập của Sài Gòn khi chính quyền cũ vừa sụp đổ: sự hân hoan của người dân và tàn dư của xã hội cũ. Đây là một trong những bộ phim Việt Nam ra đời sớm nhất ghi lại hình ảnh của Thành phố Hồ Chí Minh sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975. Tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 4, bộ phim tài liệu này đã giành được giải Bông sen bạc.[42]
Không lâu sau đó, ông tiếp tục thành công ở mảng phim tài liệu khi nhận được Bông sen bạc cho bộ phim tài liệu Nguyễn Trãi tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 6 diễn ra vào năm 1983. Trong một bài phỏng vấn với báo Tổ quốc, Đặng Nhật Minh cho biết ông đã "đem hết tất cả tình cảm và trí sáng tạo bằng ngôn ngữ điện ảnh để làm bộ phim này". Lời bình được thực hiện bởi nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần tạo nên thành công cho bộ phim. Trong ngày chiếu ra mắt, đã có nhiều nhà sử học, nhà văn hóa đến tham dự, trong đó có bác sĩ Nguyễn Khắc Viện.[43]
Sau một thời gian thực hiện những bộ phim theo cách làm việc cũ (kịch bản sau khi được duyệt sẽ đưa về phân công cho các đạo diễn), Thị xã trong tầm tay là bộ phim đầu tiên ghi dấu ấn cá nhân của ông.[44] Năm 1981, Đặng Nhật Minh có một truyện ngắn mang tên "Thị xã trong tầm tay" được đăng trên báo Văn nghệ. Dù truyện ngắn này không được chú ý, nhưng dịch giả Vũ Hoàng Địch (em trai nhà thơ Vũ Hoàng Chương) đã gợi ý Đặng Nhật Minh chuyển thể sang điện ảnh. Trong quá trình thực hiện, bộ phim đã được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết nhạc phim dựa trên bài thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường.[45]
Thị xã trong tầm tay bắt đầu khởi quay vào năm 1982 tại Lạng Sơn, lấy bối cảnh Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979, thể hiện sự phản bội của Trung Quốc với Việt Nam cùng với sự phản bội giữa người với người. Vai diễn nhà báo Nhật Bản trong phim là một vai diễn bất đắc dĩ của Đặng Nhật Minh khi người vốn được chọn cho vai này, một sinh viên người Nhật Bản, không thể đến địa điểm quay phim trong tình hình biên giới Việt Nam bất ổn.[45] Khi tham gia Liên hoan phim Việt Nam năm 1983, bộ phim đã gây tranh cãi lớn giữa các giám khảo. Cuối cùng, nhờ sự quyết liệt của nhóm giám khảo gồm nhà thơ Chế Lan Viên và Hoàng Trung Thông, nhà văn Nguyễn Khải và các đạo diễn Trần Vũ, Mai Lộc, Phạm Kỳ Nam, bộ phim đã giành được Bông sen vàng năm đó. Trong cuốn hồi ký của mình, Đặng Nhật Minh có chia sẻ rằng Thị xã trong tầm tay là bộ phim giàu chất điện ảnh nhất mà ông từng làm.[46]
Dấu ấn quốc tế
Bao giờ cho đến tháng Mười
Sau khi gây tiếng vang trong nước với Thị xã trong tầm tay, ông tiếp tục ghi dấu ấn với bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười. Tại Liên hoan phim Việt Nam, bộ phim không chỉ giành được Bông sen vàng cho phim truyện điện ảnh mà còn giúp ông chiến thắng hạng mục Đạo diễn xuất sắc đầu tiên trong sự nghiệp điện ảnh của mình. Tuy nhiên trước đó, bộ phim đã liên tục bị kiểm duyệt 13 lần do tư duy làm phim khác biệt, trước khi được Tổng Bí thư Trường Chinh cho phép ra mắt khán giả.[47][48] Đây được xem là bộ phim đầu tiên mang tính xét lại những chủ đề tranh cãi liên quan đến ký ức chiến tranh. Bằng cách miêu tả quá trình riêng tư về việc để tang người lính đã qua đời, Đặng Nhật Minh đã thách thức sự tôn trọng của nhà nước về những người chết trong chiến tranh và khôi phục ký ức về người lính đã chết trong cõi riêng của họ hàng gia đình.[49] Mặc dù thời điểm này đã là năm 1984, gần 1 thập kỷ sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, bộ phim cũng ra đời sau nhiều bộ phim khác cùng về đề tài sự mất trong chiến tranh, nhưng đạo diễn Đặng Nhật Minh vẫn e ngại rằng những điều mình thể hiện có thể bị hiểu lệch lạc. Trong bài báo "Lời tự sự của người làm phim" đăng trên Tạp chí Điện ảnh số 2 năm 1985, ông đã dẫn lại một đoạn trích trong lời tựa của kịch bản:[50]
“
Viết về những hy sinh, mất mát trong chiến tranh là một việc khó, bởi phải viết sao để không rơi vào bi quan ảm đạm, hoặc trái lại, lạc quan khí thế một cách giả tạo. Trong lúc đó những hy sinh to lớn lao là có thật. Kịch bản phim Bao giờ cho đến tháng mười được viết ra không ngoài mục đích nói tới sự thật hiển nhiên đó thêm một lần nữa, nhận rõ những giá trị thiêng liêng của đời sống mà chung ta sống hôm nay.
”
— Đặng Nhật Minh, Lời tựa cuối của kịch bản Bao giờ cho đến tháng mười.[51]
Năm 1985, Bao giờ cho đến tháng Mười được công chiếu tại Liên hoan phim quốc tế Hawaii.[52] Nó đánh đấu lần đầu tiên một bộ phim điện ảnh Việt Nam được trình chiếu tại một liên hoan phim của Hoa Kỳ.[53][54] Bộ phim mô tả lại cuộc chiến từ một góc nhìn mà hầu hết người Mỹ chưa bao giờ được nhìn thấy từ những tác phẩm của Hollywood,[55] đưa đến cho khán giả Mỹ một định nghĩa hoàn toàn khác về phim chiến tranh họ vốn quen thuộc.[56] Với sự thành công rực rỡ trong cả giới phê bình lẫn công chúng, bộ phim được đề cử Giải thưởng Trung tâm Đông Tây dành cho bộ phim mang lại sự thấu hiểu tốt nhất giữa các dân tộc châu Á, Thái Bình Dương, Hoa Kỳ, và nó đã giành được giải đặc biệt từ ban giám khảo.[53] Ngoài ra, bộ phim còn nhận được bằng khen của Ủy ban Bảo vệ hòa bình tại Liên hoan phim quốc tế Moskva.[57] Năm 2008, đài truyền hình CNN đã liệt kê Bao giờ cho đến tháng Mười vào danh sách 18 bộ phim châu Á xuất sắc nhất mọi thời đại.[58][59] Cho đến nay, đây vẫn là một trong những bộ phim kinh điển của điện ảnh Việt Nam.[60]
Cô gái trên sông
Năm 1987, bộ phim Cô gái trên sông của Đặng Nhật Minh được công chiếu sau hàng loạt tranh cãi gay gắt trong Đảng Cộng sản Việt Nam.[61] Bộ phim được xây dựng với hai hình ảnh đối lập: người lính Quân đội nhân dân Việt Nam bội bạc trong khi người quân nhân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa lại thủy chung. Đây được xem là một sự lựa chọn mạo hiểm của Đặng Nhật Minh,[62] và nó cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều tin đồn thất thiệt bao gồm tin đồn bị cấm chiếu. Tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 8 diễn ra ở Đà Nẵng, Cô gái trên sông vốn đã nhận đủ điểm từ ban giám khảo để nhận Bông sen vàng, nhưng tin đồn cấm chiếu khiến bộ phim chỉ nhận được Bông sen bạc. Việc này đã gây ra một làn sóng bất bình từ khán giả Đà Nẵng.[63][64]
Ngược lại hoàn toàn với tin đồn, bộ phim không chỉ được công chiếu mà còn được đón nhận nồng nhiệt ở Đà Nẵng. Mặc dù không có số liệu chính thức, nhưng doanh thu của bộ phim được cho là đủ để trang trải toàn bộ kinh phí của Liên hoan phim và thậm chí vẫn còn thừa.[65] Lần công chiếu tại Đà Nẵng trong khuôn khổ Liên hoan phim Việt Nam là lần cuối cùng bộ phim được công chiếu rộng rãi trong nước dù không có một lệnh cấm nào được ban hành.[66] Sau đó, Cô gái trên sông đã xuất hiện tại hàng loạt liên hoan phim quốc tế[67] và được nhiều quốc gia mua bản quyền phát hành như Đức,[68] Hoa Kỳ, Nhật Bản và Canada.[66][69] Bộ phim được xem là "một tiếng nổ đầu tiên của điện ảnh thời kỳ đổi mới". Năm 2000, nhân kỷ niệm 25 năm ngày thống nhất Việt Nam, bộ phim Cô gái trên sông đã được chiếu trên kênh truyền hình ARTE (en) của châu Âu.[70]


