Đặng Phúc Thông – người giữ mạch máu giao thông trong buổi đầu độc lập
Từ những đoàn tàu chở lương thực cứu đói và đưa quân Nam tiến đến lớp học kỹ thuật giữa vùng sơ tán, kỹ sư Đặng Phúc Thông đã dành trọn tài năng để giữ cho “mạch máu” của nước Việt Nam non trẻ không ngừng chảy.
Cuối năm 1945, những đoàn tàu từ miền Bắc chuyển bánh vào Nam mang theo một loại hành khách đặc biệt. Trên các toa xe là những người lính tình nguyện, vũ khí và vật tư được khẩn trương đưa tới nơi đồng bào Nam Bộ đang chiến đấu chống thực dân Pháp quay trở lại.
Khi đoàn tàu đi vào Nam, nó chuyên chở sức người cho kháng chiến. Trên hành trình trở ra Bắc, các toa tàu lại mang theo lương thực để góp phần cứu đói. Đất nước vừa giành được độc lập, ngân khố gần như trống rỗng, hệ thống giao thông bị chiến tranh tàn phá, nhưng đường sắt vẫn phải hoạt động.
Người trực tiếp tổ chức những chuyến tàu đặc biệt ấy là kỹ sư Đặng Phúc Thông, Giám đốc Hỏa xa Việt Nam và sau này là Thứ trưởng đầu tiên của Bộ Giao thông Công chính.
Ông sinh năm 1906 trong một gia đình có truyền thống Nho học tại làng Khối Lỗ, xã Cự Khối, huyện Gia Lâm. Sau thời gian học tập trong nước, Đặng Phúc Thông sang Pháp, được đào tạo về mỏ và cầu đường – những lĩnh vực kỹ thuật mà người Việt Nam được tiếp cận rất hạn chế trong thời thuộc địa.
Trở về nước với bằng cấp và chuyên môn vững vàng, ông hoàn toàn có thể lựa chọn một cuộc sống đủ đầy trong bộ máy thuộc địa. Nhưng người kỹ sư trẻ không chỉ quan tâm đến những công trình phục vụ khai thác thuộc địa. Ông gần gũi với nhiều trí thức yêu nước, tham gia các hoạt động truyền bá kiến thức khoa học bằng tiếng Việt và suy nghĩ về con đường dùng khoa học để phục vụ dân tộc.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã đặt Đặng Phúc Thông trước một lựa chọn lớn. Một bên là địa vị và đời sống ổn định mà nền hành chính cũ có thể đem lại. Bên kia là một chính quyền cách mạng vừa ra đời, thiếu từ tiền bạc, phương tiện cho đến cán bộ kỹ thuật.
Ông lựa chọn phía khó khăn hơn.
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi ấy phải cùng lúc đối diện với nạn đói, nạn dốt và nguy cơ ngoại xâm. Ở Nam Bộ, thực dân Pháp nổ súng tái chiếm. Những đoàn quân từ miền Bắc cần được nhanh chóng đưa vào Nam, trong khi lương thực từ các tỉnh phía Nam lại phải chuyển ra cứu đói cho miền Bắc.
Trong hoàn cảnh ấy, mỗi đoàn tàu chạy được đều mang ý nghĩa lớn hơn một chuyến vận tải thông thường. Đường sắt trở thành sợi dây nối liền hậu phương với tiền tuyến, nối những vùng đang có lương thực với những nơi người dân còn chịu hậu quả của nạn đói.
Trên cương vị Giám đốc Hỏa xa Việt Nam, Đặng Phúc Thông trực tiếp tham gia tổ chức các đoàn tàu vừa chở lương thực vừa đưa những đội quân tình nguyện Nam tiến trong hai năm 1945–1946. Hệ thống đường sắt lúc đó thiếu đầu máy, thiếu nhiên liệu, nhiều đoạn đường và cầu cống bị hư hại. Giữ cho một đoàn tàu chạy đúng hành trình đòi hỏi sự phối hợp của hàng loạt nhà ga, công nhân, thợ máy và lực lượng bảo vệ tuyến đường.
Đằng sau tiếng còi tàu là một cuộc chạy đua với thời gian.
Đặng Phúc Thông không chỉ có chuyên môn kỹ thuật. Ông còn là một trí thức được Chính phủ tin cậy. Năm 1946, ông tham gia phái đoàn Việt Nam sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, nơi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cố gắng tìm kiếm một giải pháp hòa bình, bảo vệ nền độc lập vừa giành được.
Nhưng đàm phán không ngăn được chiến tranh.
Cuối năm 1946, toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Trong những tháng đầu của cuộc chiến, Đặng Phúc Thông có thời gian bị kẹt lại trong vùng Hà Nội do quân Pháp kiểm soát. Dù bị theo dõi và chịu nhiều sức ép, ông vẫn tìm cách liên lạc, báo cáo tình hình cho Chính phủ ở chiến khu.
Năm 1947, người kỹ sư rời Hà Nội, tìm đường lên Việt Bắc tham gia kháng chiến.
Đây là bước ngoặt thể hiện rõ nhất lựa chọn của Đặng Phúc Thông. Ông rời lại phía sau nhà cửa và điều kiện sinh hoạt của đô thị để đi vào vùng rừng núi thiếu thốn. Ở đó không có phòng làm việc đầy đủ, cũng không có những thiết bị kỹ thuật hiện đại từng được sử dụng ở Pháp. Nhưng ở đó có một đất nước đang cần những con đường được mở, những cây cầu được dựng và một hệ thống vận tải đủ sức phục vụ kháng chiến.
Với vai trò Thứ trưởng Bộ Giao thông Công chính, Đặng Phúc Thông cùng đồng nghiệp tổ chức lại hoạt động giao thông trong điều kiện chiến tranh. Các tuyến đường phải vừa bảo đảm vận chuyển vừa giữ bí mật. Cầu cống bị phá phải nhanh chóng khắc phục. Khi những tuyến lớn bị quân địch kiểm soát, ngành giao thông phải tìm đường vòng, mở đường mới hoặc dùng các phương tiện thô sơ để duy trì việc đưa người và hàng hóa tới tiền tuyến.
Tuy nhiên, Đặng Phúc Thông hiểu rằng sửa một cây cầu chỉ giải quyết được nhu cầu trước mắt. Muốn đất nước có thể tự đứng vững, Việt Nam phải có đội ngũ kỹ sư của chính mình.
Trường Cao đẳng Công chính khi ấy phải liên tục sơ tán để tránh các cuộc tiến công của quân Pháp. Tháng 4/1948, trường chuyển về huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình và Đặng Phúc Thông trực tiếp đảm nhiệm việc điều hành. Đến ngày 1/1/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 01/SL, chính thức cử ông – khi đó đang là Thứ trưởng Bộ Giao thông Công chính – kiêm chức Giám đốc Trường Cao đẳng Kỹ thuật.
Ngôi trường không có một khuôn viên ổn định. Thầy và trò phải học trong vùng sơ tán, nhiều lần di chuyển từ Hà Đông đến Ninh Bình, Thanh Hóa rồi Việt Bắc. Thiếu giáo trình, dụng cụ và phòng thí nghiệm, nhưng các lớp cầu đường, công chính, kiến trúc và bưu điện vẫn được duy trì.
Năm 1949, trường tổ chức kỳ thi quốc gia đầu tiên cho hai hệ cao đẳng và trung đẳng. Mười bảy học viên tốt nghiệp, trong đó có bảy kỹ sư trình độ cao đẳng. Năm 1950, thêm 26 sinh viên cao đẳng và 14 học sinh trung đẳng hoàn thành chương trình.
Những con số ấy không lớn nếu nhìn từ hôm nay. Nhưng trong hoàn cảnh một đất nước đang kháng chiến, mỗi kỹ sư tốt nghiệp là một người có thể khảo sát một tuyến đường, thiết kế một cây cầu, sửa chữa đầu máy hoặc huấn luyện thêm công nhân kỹ thuật. Đặng Phúc Thông đã góp phần tạo nên lớp người sẽ tiếp tục giữ mạch máu giao thông khi chiến tranh còn kéo dài.
Giữa năm 1951, ông từ Việt Bắc về Thanh Hóa để chỉ đạo hội nghị tổng kết công tác của ngành. Sau chuyến công tác, Đặng Phúc Thông lâm bệnh nặng và qua đời vào ngày 29/12/1951, khi mới khoảng 45 tuổi.
Được tin ông mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chia buồn tới gia đình và ghi nhận ông là một cán bộ cao cấp xuất sắc của Chính phủ, một chiến sĩ trung thành của dân tộc.
Cuộc đời Đặng Phúc Thông ngắn ngủi, nhưng ông đã có mặt ở những vị trí mà nước Việt Nam non trẻ cần nhất. Khi đất nước thiếu lương thực, ông tổ chức đoàn tàu vận chuyển. Khi Nam Bộ cần người chiến đấu, ông đưa quân Nam tiến. Khi kháng chiến cần đường sá, ông tham gia điều hành ngành giao thông. Khi tương lai cần kỹ sư, ông đứng ra tổ chức đào tạo ngay giữa vùng sơ tán.
Ngày nay, một tuyến đường ở Hà Nội mang tên Đặng Phúc Thông. Những phương tiện qua lại trên con đường ấy có thể khiến người ta nhớ đến sự nghiệp của ông: một cuộc đời gắn với việc mở đường và giữ đường cho đất nước.
Trong buổi đầu độc lập, khi mỗi cây cầu, mỗi đoàn tàu và mỗi lớp kỹ thuật đều có thể tác động đến vận mệnh của cuộc kháng chiến, Đặng Phúc Thông đã chọn đứng ở nơi âm thầm nhưng thiết yếu nhất.
Ông giữ cho mạch máu giao thông của Tổ quốc tiếp tục chảy.



