Đặng Thị Sở - Mẹ Việt Nam anh hùng
Rời làng Thiện Tân nơi chôn nhau cắt rốn, mẹ Đặng Thị Sở về làm dâu làng Tân Tịch. Những đứa con kế tiếp nhau ra đời trong chuỗi ngày lam lũ làm thuê, làm mướn của đôi vợ chồng chơn chất. Quanh năm đầu tắt mặt tối mà nhà mẹ luôn bị thiếu ăn. Nhiều khi đến bữa chỉ có toàn khoai củ, đọt măng lai. Năm 1940, mẹ chít vành khăn tang trắng lên đầu tiễn chồng vĩnh viễn ra đi sau một cơn bạo bệnh. Từ đó, gánh nặng gia đình đổ trút lên đôi vai gầy của mẹ. Cách mạng tháng Tám thành công, mẹ như người đi giữa đêm đen bắt gặp ánh sáng mặt trời. Kể từ đó là chuỗi thời gian dài mẹ cống hiến không tính toán cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và hướng các con cùng đi theo con đường của mẹ. Là dân của Chiến khu Đ, mẹ tích cực tham gia các hoạt động của các xã vùng căn cứ. Không có buổi mít tinh, cuộc vận động nào vắng mặt mẹ. Cùng bao người, mẹ về Tân Uyên đấu tranh chống sự càn quét, bắt bớ của giặc. Cuộc sống vẫn còn trăm bề thiếu thốn, nhưng mẹ thường xuyên tiếp tế lương thực, vật dụng vào Suối Cái cho bộ đội mà không một lời than vãn, một thái độ nề hà. Công việc mẹ làm đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng và nhận thức của các con. Trong vòng mười năm, ba người con trai của mẹ tiếp bước nhau trở thành bộ đội cụ Hồ. Con gái thì hỗ trợ đắc lực cho mẹ trong vận động bà con đóng góp lương thực cho chiến khu và là cơ sở tin cậy của cán bộ khi về công tác. Hết Pháp rồi đến Mỹ, mẹ không nhớ mình đã bao lần bị bắt về bót Tân Uyên, Tân Tịch, cùng những đòn roi mà giặc đã phủ lên vóc người nhỏ nhắn, gầy gò của mẹ. Chiến tranh ngày càng khốc liệt, vành đai Chiến khu bị giặc chà đi xát lại nhiều lần. Chúng gom dân vào các ấp chiến lược nhằm cô lập lực lượng kháng chiến. Nhiều gia đình không chịu được đã phải di dời đi nơi khác. Mẹ vẫn kiên cường bám trụ suốt thời gian dài, vì mẹ hiểu cách mạng đang cần mẹ và cũng để động viên tinh thần các con mẹ đang hăng say chiến đấu. Đầu năm 1964, mẹ nhận tin báo tử đầu tiên của đứa con trai thứ sáu là Tống Văn Sỉnh hy sinh trong một chuyến công tác thành. Mẹ lặng lẽ chuẩn bị áo quan, đào sẵn huyệt để đón xác con. Nhưng rồi hình hài thân thương ấy đã không về được trong vòng tay thân thương của mẹ. Tháng 7 cùng năm, con trai thứ năm là Tống Văn Xủng lại hy sinh trong một trận pháo kích của giặc. Anh chết mà không vẹn toàn thân xác.Chỉ nửa năm, mất cả hai đứa con, mẹ như người điên dại. Nỗi đau dồn nén trong mẹ vỡ òa. Rồi đứa con thứ ba - niềm hy vọng cuối cùng của mẹ là Tống Văn Nhập cũng vĩnh viễn nằm xuống ở chiến trường Lộc Ninh năm 1971. Mẹ đón nhận tin con như người hóa đá. Chiếc tủ các anh đóng cho mẹ làm chỗ thờ chồng trước ngày đi bộ đội, giờ mẹ đặt thêm bát hương của các con lên đấy. Mẹ ngồi đó, nhỏ bé, gầy gò, mắt đã mờ lắm rồi, trí óc cũng không còn minh mẫn nữa. Cái nhìn của mẹ như biểu tượng sự đau thương và nhẫn nại. Cả một đời hy sinh tần tảo đã dồn tụ thành những vết nhăn ngang dọc trên khuôn mặt gìà nua. Kể lại những chuyện đã qua, mẹ không một lần rơi nước mắt.Lòng già khô đặc vì đã âm thầm khóc cạn nước mắt suốt hàng chục năm qua. Mẹ vui là đến ngày giỗ con, không còn phải cúng lén lút như trước kia. Mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994. Mẹ qua đời ngày 20/10/2003.

