Mẹ Việt Nam Anh hùng

Đặng Thị Tứ

Xã Phú Hội (huyện Nhơn Trạch) nổi tiếng vì là xã anh hùng trong hai thời kỳ kháng chiến của dân tộc, là xã có số lượng bà mẹ Việt Nam anh hùng nhiều nhất tỉnh Đồng Nai trong đợt phong tặng đầu tiên năm 1994. Mẹ Đặng Thị Tứ là một trong những mẹ được truy tặng danh hiệu cao quý đó.

An Giang07/04/2026ĐOÀN TRƯỜNG CĐSP KIÊN GIANG (ĐOÀN TRƯỜNG CĐSP KIÊN GIANG)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Xã Phú Hội (huyện Nhơn Trạch) nổi tiếng vì là xã anh hùng trong hai thời kỳ kháng chiến của dân tộc, là xã có số lượng bà mẹ Việt Nam anh hùng nhiều nhất tỉnh Đồng Nai trong đợt phong tặng đầu tiên năm 1994. Mẹ Đặng Thị Tứ là một trong những mẹ được truy tặng danh hiệu cao quý đó. Mẹ sinh năm Quý Mão 1903 trong một gia đình trung nông. Khi vừa đến tuổi cập kê, mẹ lấy chồng, đôi vợ chồng trẻ được ông bà chia cho năm mẫu ruộng và hơn một công vườn kiêm đất ở. Cũng như bao phụ nữ hồi đó, mẹ sinh hạ cả thảy mười con nhưng chỉ nuôi được sáu đến tuổi khôn lớn. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ba con trai lớn của mẹ đều hăng hái tham gia phong trào cách mạng địa phương. Giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, ba anh theo tiếng gọi của Tổ quốc thoát ly tham gia kháng chiến. Anh Hai Phong (Nguyễn Thanh Phong) công tác ở cơ quan dân chính. Anh Ba Đường (Nguyễn Quang Đường) vào bộ đội địa phương huyện Long Thành, bám trụ chiến đấu liên tục trên mảnh đất quê hương thân thuộc. Anh Tư Phiên (Nguyễn Hữu Dũng) được đào tạo thành y tá quân y viện tỉnh đội Bà Rịa. Nhà mẹ Tứ ở ngay sát đường liên tỉnh 25, lính hàng ngày qua lại trước cổng. Biết gia đình có con theo Việt Minh, chúng thường xét hỏi, bắt ông bà kêu các con về. Anh em cán bộ tỉnh, huyện, xã và bộ đội tranh thủ lúc không có địch ghé thăm gia đình và được mẹ ủng hộ gạo, mắm, thực phẩm...nhiều lần. Có những đêm mẹ nấu cơm cho anh em ăn, dỡ mang theo. Từ một chiến sĩ, anh Ba Yên (Nguyễn Quang Đường) qua quá trình chiến đấu dũng cảm đã trở thành Trung đội trưởng quân báo của Huyện đội Long Thành. Ngày 11/11/1949, anh đi công tác lọt ổ phục kích địch ở sở Aborati (Long Thành), anh em đưa về an táng tại rừng Phước Nguyên (Tam An). Khá lâu sau, mẹ Tứ mới biết tin dữ này. Vì nhà ở ven lộ, địch có thể vào bất ngờ nên mẹ phải cố nén đau thương, chỉ khóc con vào lúc đêm khuya. Và mẹ không tiếc gì, khi các anh em đồng chí ghé qua mẹ đều sẵn lòng cho gạo, tiền, thuốc, thực phẩm... Mẹ không có điều kiện đi thăm các con nên lâu lâu lại gửi cho các anh một vài thứ cần thiết. Sau trận bão lụt Nhâm Thìn (tháng 10/1952), phong trào kháng chiến miền Đông Nam Bộ gặp nhiều khó khăn: lương thực, thực phẩm, thuốc men chữa bệnh... Một số người không chịu đựng nổi gian khổ đã rời bỏ hàng ngũ kháng chiến về thành. Anh Tư Phiên (Nguyễn Hữu Dũng) là y tá góp phần chữa trị cho hàng trăm thương binh qua những năm dài kháng chiến, bị mắc bệnh sốt rét ác tính tháng 10/1953. Do thiếu thuốc men chữa trị, anh hy sinh ở Hắc Dịch ngày 13/10/1953. Mẹ Đặng Thị Tứ mất thêm một giọt máu thân thương, xiết bao đau đớn. Mẹ muốn kìm nén nhưng không sao giữ được trong lòng, vẻ đau xót lộ rõ không thể che giấu... Hiệp định Genève 1954 lập lại hòa bình tạm thời trên đất nước ta càng làm mẹ nhớ tới hai liệt sĩ. Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, gia đình mẹ Đặng Thị Tứ bị theo dõi ngặt vì anh Hai Phong (Nguyễn Thanh Phong) được bố trí ở lại hoạt động gây dựng cơ sở, tổ chức đấu tranh chính trị đòi nhà cầm quyền miền Nam hiệp thương với miền Bắc, tiến tới tổng tuyển cử tự do thống nhất nước nhà. Sau cao trào Đồng khởi 1960, con gái thứ mười của mẹ là Nguyễn Thị Huyền Ngân đang đi học ở quận lỵ Long Thành được một số cán bộ xã như đồng chí Hai Muôn móc nối, giáo dục, vận động. Mười Ngân bỏ học đi thoát ly, là y tá trường Đảng Bà - Biên tháng 2/1961, khi đó mới 17 tuổi. Cô hăng say công tác, tổ chức giao nhiệm vụ gì cũng gắng hoàn thành, không nề khó khăn nguy hiểm. Lúc này mẹ Tứ đã già yếu, chiến tranh ngày càng khốc liệt, Mười Ngân lại không ở một địa điểm nhất định, nên mẹ không thể đi thăm dù rất nhớ con gái thân yêu. Đầu tháng 11/1967, một đoàn vận tải hàng chiến lược có một số bị đau ốm, Mười Ngân và vài đồng chí quân y được giao nhiệm vụ điều trị cho số anh chị em này ở căn cứ Bàu Hàm. Ngày 4/11/1967, địch đột kích vào đây, cô và hai đồng chí nữa hy sinh. Mãi về sau mẹ Tứ mới biết tin xé lòng này. Hai hố mắt của người mẹ già tưởng chừng cạn khô lại một lần nữa tuôn chảy những giọt nước mắt hiếm hoi. Sau ngày toàn thắng của dân tộc (tháng 4/1975) mẹ vui vì con trai đầu lòng Nguyễn Thanh Phong trở về. Nhưng mẹ buồn hơn vì không tìm thấy mộ và hài cốt của cả ba con đã hy sinh. Nắng mưa và bom đạn của bao nhiêu năm chiến tranh đã xóa sạch vết tích của biết bao liệt sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc độc lập, tự do. Mẹ Đặng Thị Tứ qua đời năm 1987. Mẹ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn