ĐẶNG THÙY TRÂM – BÔNG HOA RỪNG TỎA NGÁT GIỮA VÙNG LỬA ĐỨC PHỔ
ĐẶNG THÙY TRÂM – BÔNG HOA RỪNG TỎA NGÁT GIỮA VÙNG LỬA ĐỨC PHỔ
Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26 tháng 11 năm 1942 tại thủ đô Hà Nội, trong một gia đình trí thức tiêu biểu đầy trọng vọng. Cha chị là bác sĩ ngoại khoa Đặng Ngọc Khuê, mẹ là dược sĩ Doãn Ngọc Trâm – giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội. Thừa hưởng nền tảng giáo dục sâu sắc cùng tâm hồn giàu lòng trắc ẩn, từ thuở nhỏ trên ghế trường phổ thông Chu Văn An danh tiếng, Thùy Trâm không chỉ thông minh, học giỏi mà còn là một cô gái giàu mộng ước lãng mạn, yêu văn chương, biết chơi vĩ cầm và chan chứa lý tưởng sống cao đẹp của tầng lớp thanh niên Hà Nội thời kỳ hòa bình vừa lập lại.
Năm 1961, Đặng Thùy Trâm thi đỗ và theo học chuyên ngành Nhãn khoa tại trường Đại học Y Hà Nội. Trong những năm tháng giảng đường, phong trào “Ba sẵn sàng” sục sôi lan rộng khắp miền Bắc khi giặc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân. Tốt nghiệp loại ưu vào năm 1966, thay vì ở lại thủ đô công tác trong các bệnh viện lớn tuyến trung ương hoặc ra nước ngoài nghiên cứu chuyên sâu, nữ bác sĩ trẻ tuổi tràn đầy nhiệt huyết đã kiên quyết làm đơn tình nguyện xin xung phong đi vào chiến trường miền Nam khốc liệt nhất. Chị tâm niệm, một người thầy thuốc chân chính trong thời tao loạn không thể đứng ngoài nỗi đau thương của dân tộc khi đồng bào và chiến sĩ nơi tiền tuyến đang từng ngày đổ máu.
Tháng 12 năm 1966, khoác ba lô trên vai, Đặng Thùy Trâm nhập vào đoàn quân vượt Trường Sơn ròng rã suốt hơn ba tháng gian khổ dưới mưa bom bão đạn, chịu đựng những cơn sốt rét rừng thấu xương để hành quân vào vùng đất Quảng Ngãi. Tháng 3 năm 1967, chị được phân công phụ trách Bệnh viện huyện Đức Phổ (còn gọi là Trạm xá Đức Phổ hay Bệnh xá Nặng) – một cơ sở y tế tiền phương nằm sâu trong vùng rừng núi huyện Đức Phổ. Đây là địa bàn chiến lược vô cùng khốc liệt, liên tục bị pháo đài bay B-52 rải thảm, chất độc da cam tàn phá và là mục tiêu lùng sục triệt hạ của Lữ đoàn 11 thuộc Sư đoàn Americal lừng danh bạo tàn của quân đội Mỹ.
Tại trạm xá tiền phương, điều kiện sinh hoạt và cứu chữa vô cùng thiếu thốn. Dưới những hầm hào khoét sâu vào sườn núi, giữa tiếng bom gầm xé rách không gian, Đặng Thùy Trâm cùng các y sĩ, hộ lý trẻ đã thực hiện hàng trăm ca phẫu thuật phức tạp dưới ánh sáng chập chờn của đèn dầu hoa kỳ hoặc pin cứu thương. Nhiều ca mổ cắt chi, mổ ổ bụng phải diễn ra khi thuốc gây mê cạn kiệt, chỉ có lòng dũng cảm của thương binh và bàn tay mềm mại, kiên định của người nữ bác sĩ gồng gánh nỗi đau. Không chỉ cứu chữa thương bệnh binh bằng chuyên môn y khoa xuất sắc, chị còn chăm sóc họ bằng tình thương ruột thịt của một người chị, người mẹ hiền, tự tay san sẻ từng ngụm cháo loãng, từng hạt muối rang, và sẵn sàng hiến chính những giọt máu của mình cho đồng đội qua cơn nguy kịch.
Bên cạnh công việc chuyên môn nặng nhọc, Đặng Thùy Trâm trút bầu tâm sự vào những trang nhật ký đong đầy trăn trở về cuộc đời, cái chết, tình yêu và lý tưởng cách mạng. Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, ngòi bút của chị không hề có sự khiếp nhược mà sáng bừng niềm tin tất thắng vào tương lai hòa bình của Tổ quốc. Ngày 27 tháng 9 năm 1968, sau bao nỗ lực rèn luyện và cống hiến quên mình trong bom đạn, Đặng Thùy Trâm vinh dự được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam ngay tại căn cứ Đức Phổ – mốc son mà chị khắc ghi là “ngày thiêng liêng nhất đời mình”.
Đầu năm 1970, chiến trường miền Trung trở nên nghẹt thở khi quân đội Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hòa mở chiến dịch càn quét dữ dội nhằm bình định cấp tốc khu vực đồng bằng và xóa bỏ các căn cứ địa kháng chiến trên núi cao. Bệnh xá Đức Phổ liên tục phải di dời địa điểm, thương bệnh binh ngày một đông trong khi lương thực, thuốc sát trùng và kháng sinh hoàn toàn cạn kiệt. Tháng 6 năm 1970, trạm xá bị một đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ bao vây cô lập. Để bảo toàn tính mạng cho các thương binh nặng và các nữ hộ lý, Đặng Thùy Trâm hạ lệnh cho đơn vị phân tán thành các tốp nhỏ đưa thương binh vượt qua vòng vây rút sâu vào rừng già, còn bản thân chị cùng một đồng chí ở lại bám trụ chốt chặn, làm nhiệm vụ phân tán sự chú ý của hỏa lực địch.
Sáng ngày 22 tháng 6 năm 1970, tại một góc rừng heo hút thuộc xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, một tiểu đội lính Mỹ thuộc Sư đoàn Americal lùng sục phát hiện ra dấu vết hầm trú ẩn. Đối mặt với họng súng của quân thù, Đặng Thùy Trâm không hề lùi bước. Với khẩu súng carbine trong tay, người nữ bác sĩ Hà Nội dáng hình thanh mảnh ấy đã kiên cường bắn trả từng loạt đạn chính xác, chặn đứng mũi tiến công của cả một toán lính thiện chiến nhằm câu giờ cho đoàn thương binh di chuyển đến nơi an toàn. Chị chiến đấu dũng cảm cho đến viên đạn cuối cùng trước khi bị một loạt đạn thẳng của đối phương cướp đi sinh mạng ở tuổi 28, để lại một khoảng trống xót xa khôn nguôi trong lòng đồng chí và nhân dân vùng ven biển Đức Phổ. Cuốn nhật ký chị để lại trên chiến trường sau đó đã được một sĩ quan quân báo Mỹ lưu giữ suốt 35 năm vì sự kính phục đối với "người con gái đã có lửa ở trong lòng", trước khi trở về với gia đình chị và làm rung động hàng triệu trái tim yêu chuộng hòa bình khắp năm châu.


