Đặng Thuỳ Trâm
Trường: THPT Hồng Ngự 3
Họ tên: Trương Lê Hà My
Lớp: 10C4
Bài viết:
Biết bao cuộc chiến đã đi qua, nhưng dấu ấn mà nó để lại trong tâm trí những người con của đất nước nghìn năm văn hiến vẫn chưa hề phai nhạt. Ngày nay, khi bom đạn và khói lửa đã lùi xa, ta vẫn hay nhắc về những người lính - những anh hùng đã anh dũng hi sinh vì tổ quốc, có những người anh người chị vẫn còn đang độ hoa niên của cuộc đời. Thế nhưng đối với họ, những người con ưa tú, việc đứng nhìn là không thoả đáng, họ không cam chịu trước số phận và trước ách đô hô của bè phái thực dân mà nối gót cha ông, duy trì truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Với lòng căm hờn khôn nguôi, họ mang theo tình yêu dân tộc, quê hương, đất nước, tình yêu gia đình xông pha ra nơi mép rìa của sự sống và cái chết để giành lấy quyền tự do cho dân tộc.
Hôm nay, khi sống trong vòng tay chở che của hoà bình cùng niềm hân hoan khôn tả, ta nhớ về các anh các chị như những ngọn đuốc soi đường trong những đêm đen tăm tối nhất của dân tộc, nhớ về những ai đã để lại thanh xuân mình nơi chiến trường khốc liệt - “Các anh đi đầu không ngoảnh lại để lại cả khoảng trời xanh mây trắng”.
Sau đây tôi xin viết về một người cũng nằm trong hàng ngũ đó, một người trẻ tuổi mang trong mình ngọn lửa cháy sáng, là bình minh trong tư tưởng của tôi về lòng yêu nước và sự quả cảm. Giữa tiếng bom đạn của chuyến trường Quảng Ngãi xa vợi, có một cô bác sĩ trẻ vẫn cặm cụi băng bó vết thương cho những người lính. Mỗi đêm, dưới ánh đèn dầu leo lét, chị lại mở cuốn sổ nhỏ và viết về những điều mình đã trải qua, về đồng đội, về gia đình và về ước mơ hòa bình. Người bác sĩ ấy là Đặng Thùy Trâm.
Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm sinh năm 1942 tại Huế, nhưng chị lớn lên ở Hà Nội trong một gia đình trí thức có truyền thống y học. Cha chị là ông Đặng Ngọc Khuê, bác sĩ ngoại khoa; mẹ chị là bà Doãn Ngọc Trâm, giảng viên trường Đại học Y Dược Hà Nội. Ngay từ nhỏ, chị đã được nuôi nấng, lớn lên trong môi trường đề cao lòng nhân ái và tinh thần tận hiến cho quê hương, xứ sở. Gia đình chị có ba người con khác và đều mang tên giống mẹ chỉ khác mỗi tên đệm, nên bạn bè thân quen thân thuộc gọi chị là “Thuỳ” để tiện bề phân biệt.
Chị là một hạt giống tài năng hiếm có, chị có một giọng ca xuất sắc, một tinh thần ham học hỏi và hơn hết là một tấm lòng nhân ái. Nối nghiệp gia đình, chị đỗ vào Đại học Y Khoa Hà Nội chuyên khoa Mắt và sớm được cho tốt nghiệp để đi chiến trường. Là một học sinh ưu tú, tốt nghiệp loại ưu, không ít cánh cửa phía trước rộng mở với chị nhưng chị đã chọn con đường khác hướng về mặt trận miền Nam xa xôi, khó lường trước, đầy trắc trở và không ít hiểm nguy. Nhưng chị đã quyết tâm ra đi. Năm 1966, Đặng Thuỳ Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường B. Sau một chặn đường dài hành quân, dưới cái nắng ấm nhẹ nhàng vô tư của tháng 3, năm 1967, chị vào đến Quảng Ngải và được phân công phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ.
Giữa bom đạn, bệnh xá dã chiến liên tục phải di chuyển, thuốc men thiếu thốn, đồng đội lần lượt hy sinh. Và chị vẫn không hề nguy nan, luôn tận tâm chăm sóc bệnh nhân và mỗi tối lại viết nhật ký, ghi lại những suy nghĩ chân thành về chiến tranh, gia đình, đồng đội và khát vọng hòa bình. Ở đây với một trái tim đầy nhiệt huyết, chị đã tận tuỵ cứu sống rất nhiều chiến sĩ bị thương bên những ngọn đèn dầu yếu ớt, trong màn đêm của rừng thẳm thét gầm, trên cả bờ vực, và cả án tử luôn treo trên đầu. Nhiều người nghĩ anh hùng là không biết sợ. Nhưng trong nhật ký, chị nhiều lần viết về sự mệt mỏi, nỗi nhớ nhà, nỗi đau khi đồng đội hy sinh và những phút giây cô đơn. Dù vậy, sáng hôm sau chị vẫn khoác túi thuốc lên vai, tiếp tục đi cứu thương binh. Tuy thiếu thốn là thế, nhưng chị không hề e ngại, chị vẫn luôn hy vọng và ước định vào tương lai tươi đẹp phía trước, có một câu rất hay của chỉ mà tôi luôn ghi nhớ: "Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố" - Chị đã viết vào nhật ký như vậy. Đó là một chân lý sống, một niềm tin và cao hơn là tinh thần mạnh mẽ trước những rung chuyển.
Trong nhật ký mà chị luôn mang theo bên mình trong những ngày nơi chiến hào, Đặng Thuỳ Trâm đã gửi đến mẹ những lời tâm sự đầy linh cảm: "Ngày mai trong tiếng ca khải hoàn sẽ không có con đâu. Con tự hào vì đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc. Dĩ nhiên con cũng cay đắng vì không được sống tiếp tục cuộc sống hòa bình, hạnh phúc..." (14/07/1969). Chị hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, bông hoa tươi thắm đã nằm lại không hối tiếc, chị không chỉ để lại những lời vàng son cho thế hệ sau, mà còn để lại cả một bầu trời tinh thần đầy giá trị cho thế hệ trẻ noi theo.
Sau khi Đặng Thùy Trâm hy sinh, một người lính tên Frederic Whitehurst thu được cuốn nhật ký của chị. Theo quy định, cuốn sổ đáng lẽ phải bị thiêu huỷ, nhưng một người phiên dịch đã nói:
“Đừng đốt. Trong đó đã có lửa rồi”
Và ngọn lửa cứ thế rực sáng, anh đã cảm nhận được “ngọn lửa” trong từng trang viết, đó là ngọn lửa của lòng yêu nước, lý tưởng sống, tình người và nhân ái. Nhiều năm sau khi chiến tranh kết thúc, Fred nhờ người thân phiên dịch và đọc những dòng nhật ký để rồi dần nhận ra người phụ nữ mà anh từng xem là “đối phương” thực ra cũng là một con người rất đỗi bình dị: cô yêu gia đình, yêu quê hương, là một bác sĩ đầy tận tuỵ với bệnh nhân, cô cũng sợ hãi, nhớ nhà và luôn cố gắng cứu chữa. Điều đó làm thay đổi cách nhìn của ông về chiến tranh và về Việt Nam. Fred Whitehurst sau đó đã giữ gìn nhật ký suốt 35 năm và luôn tìm cách trao trả cho gia đình bác sĩ Thùy Trâm. Đến năm 2005, nhật ký được trao lại cho gia đình chị Thùy Trâm tại Hà Nội. Sau hơn ba thập kỷ, cuốn nhật ký trở về đúng nơi nó thuộc về, như một biểu tượng của sự tha thứ, lòng nhân ái và khát vọng hòa bình.
Trong những trang viết thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu, Nhật ký của chị Đặng Thùy Trâm” là tiếng nói rất mực chân thực của một nữ bác sĩ trẻ giữa chiến trường Đức Phổ khốc liệt những năm 1960 -1970. Đó không chỉ là cuốn nhật ký thông thường, mà là một chứng tích sống động về tinh thần yêu nước, lòng quả cảm và nhân ái của một nữ bác sỹ tuổi hai mươi, mang tên Đặng Thùy Trâm.
Qua đây, điều khiến tôi khâm phục không chỉ là lòng dũng cảm của chị, mà còn là việc chị vẫn giữ được sự dịu dàng giữa chiến tranh, giữa những nghiệt ngã và sự chia ly không báo trước với đồng đội. Những trang nhật ký cho thấy chị cũng nhớ nhà, cũng có những phút yếu lòng, nhưng cuối cùng chị vẫn chọn ở lại. Tôi hiểu được rằng lòng dũng cảm không phải là không biết sợ, mà là vẫn làm điều đó dù cho có sợ hãi. Trên đời có những con người sống như một bông hướng dương. Dù bầu trời phủ đầy khói lửa, họ vẫn hướng đến nơi có ánh sáng và hy vọng. Với tôi, bác sĩ Đặng Thùy Trâm là một người như thế.


