Bài viết

Đặng Thùy Trâm - Ngọn đèn dưới hầm

Đà Nẵng05/06/2026Chi đoàn 11/4 (Đoàn trường THPT Thanh Khê)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuối năm 1966, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội, bác sĩ Đặng Thùy Trâm rời miền Bắc để vào chiến trường miền Trung. Chị đến Đức Phổ, Quảng Ngãi, khi những con đường đất còn hằn sâu dấu bánh xe và mỗi lần máy bay quần qua là cả vùng lại lặng đi như nín thở. Bệnh xá dã chiến khi ấy chỉ là một nếp nhà tạm, vách mỏng, mái thấp, có lúc phải chuyển chỗ vì bom đạn. Công việc của chị bắt đầu từ những việc rất nhỏ: lau vết bùn trên cáng, đun nồi nước thuốc, cắt lại băng gạc, ghi nhanh tên người bệnh vào cuốn sổ đã nhàu ở mép giấy. Có đêm vừa băng xong cho một thương binh thì lại chạy sang giữ cho ngọn đèn dầu khỏi tắt, vì trong bóng tối, một chiếc đèn cũng giống như một lời hứa rằng nơi này vẫn còn người chờ.


Những ngày cao điểm, bệnh xá đông đến mức không kịp phân biệt giờ giấc. Người được cáng vào lúc sáng, có khi đến tối vẫn chưa kịp ăn miếng cháo loãng nào. Đặng Thùy Trâm thường tranh thủ từng phút để hỏi han, tìm thuốc, nhường phần cơm ít ỏi cho thương bệnh binh rồi lại quay về với bếp lửa nhỏ. Trong những trang nhật ký còn lại, người ta thấy một đời sống rất đời thường: nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ Hà Nội, nhớ mùi nước mưa trên sân gạch, nhưng vẫn đứng dậy mỗi sáng với công việc trước mắt. Tháng 6 năm 1970, trong một lần đi công tác, chị hy sinh khi mới 27 tuổi.


Sau chiến tranh, cuốn nhật ký của chị được nhắc đến như một chứng tích lặng lẽ. Nhưng trước khi trở thành một cái tên được nhớ lại, chị đã sống những ngày rất giản dị giữa rừng núi Quảng Ngãi: vá lại chiếc áo khoác trắng đã sờn, chia nửa quả bắp cho bệnh nhân, ngồi rất lâu bên một người sốt rét đang mê man. Và trong trí nhớ của những người từng gặp chị, có lẽ còn lại rõ nhất là ánh đèn nhỏ ấy, thứ ánh sáng mỏng manh nhưng bền bỉ, cứ ở mãi trong căn hầm thấp, giữa tiếng máy bay và tiếng lá rừng xao xác.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn