Bài viết

ĐẶNG VĂN NGỮ – NGƯỜI MANG THEO MỘT ỐNG GIỐNG VỀ GIỮA RỪNG

Đặng Văn Ngữ là một bác sĩ, nhà khoa học Việt Nam có sự nghiệp đặc biệt trong thời chiến. Sau nhiều năm nghiên cứu tại Nhật Bản, ông mang theo giống nấm Penicillin trở về Việt Nam cuối năm 1949, chấp nhận điều kiện vô cùng thiếu thốn của chiến khu để nghiên cứu và sản xuất thuốc kháng sinh phục vụ thương binh. Sau năm 1954, ông tiếp tục dành nhiều năm nghiên cứu bệnh sốt rét; trong kháng chiến chống Mỹ, ông trực tiếp đưa công việc nghiên cứu vào chiến trường. Ngày 1 tháng 4 năm 1967, ông hy sinh trong một trận bom khi đang làm nhiệm vụ nghiên cứu tại chiến trường.

Hà Nội23/09/2026Đoàn phường Kỳ Lừa (Phường Kỳ Lừa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

ĐẶNG VĂN NGỮ – NGƯỜI MANG THEO MỘT ỐNG GIỐNG VỀ GIỮA RỪNG

Nguồn truyện: Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Báo Nhân Dân; sách tranh Đặng Văn Ngữ - Tận hiến cả cuộc đời, NXB Kim Đồng.

Cuối năm 1949, từ Nhật Bản trở về Việt Nam, Đặng Văn Ngữ mang theo rất ít hành lý.

Ông đã có thể chọn một cuộc đời khác.

Ở Nhật, ông đã có nhiều năm học tập và nghiên cứu. Ông từng làm việc trong những phòng thí nghiệm có điều kiện mà các nhà khoa học ở Việt Nam khi ấy khó có thể hình dung. Ông nghiên cứu về vi sinh vật, ký sinh trùng và kháng sinh. Ông đã tìm được giống nấm có khả năng sản xuất penicillin và có trong tay những kiến thức khoa học quý giá.

Nếu ở lại, con đường khoa học của ông có thể tiếp tục trong những phòng thí nghiệm đầy đủ thiết bị.

Nhưng Đặng Văn Ngữ chọn trở về.

Cuối năm 1949, sau hành trình nhiều gian nan qua Thái Lan và Lào, ông trở về vùng kháng chiến. Theo bản tự thuật năm 1952 được tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia dẫn lại, hành trang ông mang về có hai bộ quần áo và một ống giống nấm Penicillin.

Chi tiết ấy nghe thật nhỏ bé.

Hai bộ quần áo.

Một ống giống nấm.

Nhưng với một người làm khoa học, chiếc ống nhỏ ấy chứa đựng cả một khả năng lớn lao: sản xuất thuốc để cứu những người đang bị thương trong chiến tranh.

Ông đến chiến khu trong một hoàn cảnh mà phòng thí nghiệm gần như không có gì.

Không có những thiết bị hiện đại. Không có đầy đủ hóa chất. Những dụng cụ cần thiết phải tìm kiếm từ những thứ sẵn có trong đời sống. Một ngôi chùa nhỏ ở Yên Thành được cải tạo thành phòng thí nghiệm. Những vật liệu thô sơ được tận dụng để phục vụ công việc nghiên cứu.

Đặng Văn Ngữ bắt đầu từ những điều nhỏ nhất.

Ông cùng các cộng sự tìm cách nuôi cấy nấm. Những nguyên liệu quen thuộc với người dân được tận dụng làm môi trường nuôi cấy. Nước thân cây ngô, những vật liệu có sẵn trong dân, những dụng cụ được chế tạo thủ công – tất cả được đưa vào công việc vốn đòi hỏi độ chính xác rất cao.

Khoa học trong phòng thí nghiệm hiện đại cần sự chính xác.

Khoa học trong chiến khu còn cần thêm một điều nữa: khả năng biến thiếu thốn thành sáng kiến.

Từ những điều kiện như vậy, những lọ Penicillin đầu tiên đã được tạo ra.

Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, ba lọ Penicillin bột đầu tiên, mỗi lọ khoảng hai vạn đơn vị, đã được sản xuất trong điều kiện phòng thí nghiệm hết sức đơn sơ. Sau đó, các lớp hướng dẫn điều chế nước lọc Penicillin được tổ chức cho bác sĩ, dược sĩ, sinh viên và dược tá.

Những giọt thuốc ấy không phải là một thành tựu khoa học nằm yên trên bàn thí nghiệm.

Chúng đi tới nơi có những người bị thương.

Trong chiến tranh, một vết thương nhỏ cũng có thể trở nên nguy hiểm nếu nhiễm khuẩn. Với các thương binh, thuốc kháng sinh có thể tạo nên ranh giới giữa sự sống và cái chết.

Đặng Văn Ngữ hiểu điều đó.

Ông không nghiên cứu để có một công trình đẹp trong sách. Ông nghiên cứu vì trước mắt ông là những con người đang cần được cứu chữa.

Những mẻ thuốc tiếp tục được sản xuất. Kiến thức được truyền lại cho những người khác. Từ một phòng thí nghiệm nhỏ trong chiến khu, kỹ thuật được phổ biến tới nhiều cơ sở y tế.

Rồi chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra.

Ở một phía của cuộc chiến là những khẩu pháo, những trận đánh và những đoàn dân công. Ở phía khác, âm thầm hơn, là những người làm công việc giữ cho thương binh có cơ hội sống sót.

Đặng Văn Ngữ thuộc về phía ấy.

Nhưng với ông, cuộc chiến chống bệnh tật chưa bao giờ kết thúc cùng một chiến dịch.

Sau năm 1954, ông dành nhiều năm nghiên cứu bệnh sốt rét. Ông đi đến nhiều vùng rừng núi, khảo sát tình hình dịch bệnh, nghiên cứu muỗi truyền bệnh và tìm biện pháp phòng chống. Ông xây dựng ngành ký sinh trùng học và góp phần đặt nền móng cho hệ thống nghiên cứu sốt rét ở Việt Nam.

Rồi chiến tranh lại lan rộng.

Từ giữa những năm 1960, Đặng Văn Ngữ nhận thấy rằng nếu nghiên cứu sốt rét chỉ tiến hành trong phòng thí nghiệm hoặc ở những vùng dân cư ổn định thì chưa đủ. Chiến trường rừng núi mới là nơi căn bệnh gây ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến bộ đội.

Ông quyết định đưa nghiên cứu tới chiến trường.

Những người làm khoa học thường cần một không gian yên tĩnh để suy nghĩ. Đặng Văn Ngữ lại chọn đi vào những nơi bom đạn đang diễn ra.

Ông dẫn đầu đội công tác của Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng vào phục vụ chiến trường. Tại những vùng đất khắc nghiệt, các cán bộ khoa học tiếp tục nghiên cứu vaccine và các biện pháp phòng chống sốt rét. Tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết đội công tác của ông đã nghiên cứu vaccine ngay tại vùng đất lửa Vĩnh Linh để phục vụ các chiến trường.

Có thể hình dung một phòng nghiên cứu giữa chiến trường không giống bất cứ phòng thí nghiệm nào trong những cuốn sách khoa học.

Ngoài kia là rừng.

Là những con đường hành quân.

Là tiếng máy bay.

Là bom đạn.

Còn trong một căn phòng đơn sơ, những người mặc áo blouse vẫn cúi xuống kính hiển vi, quan sát những mẫu vật nhỏ bé, ghi chép từng kết quả nghiên cứu.

Đó là một cuộc chiến khác.

Một cuộc chiến mà đối tượng không phải là một đơn vị quân địch, mà là một loài ký sinh trùng vô hình.

Ngày 1 tháng 4 năm 1967, Đặng Văn Ngữ đang ở chiến trường để nghiên cứu vaccine chống sốt rét.

Bom Mỹ đánh xuống.

Ông cùng hai thành viên trong đoàn hy sinh.

Một nhà khoa học đã chết giữa chiến trường khi công việc của ông vẫn còn dang dở.

Nhưng câu chuyện về ông không kết thúc ở đó.

Năm 2025, NXB Kim Đồng xuất bản sách tranh Đặng Văn Ngữ - Tận hiến cả cuộc đời, kể lại hành trình của ông từ một nhà khoa học trở về Tổ quốc đến những năm tháng nghiên cứu thuốc kháng sinh, sốt rét và vaccine trong chiến tranh.

Nhìn lại cuộc đời Đặng Văn Ngữ, người ta có thể nhớ đến những công trình khoa học, những lọ Penicillin, những nghiên cứu về sốt rét và vaccine.

Nhưng có một hình ảnh đặc biệt hơn cả.

Một người trở về từ một đất nước có điều kiện nghiên cứu tốt hơn, mang theo hai bộ quần áo và một ống giống nấm.

Chiếc ống nhỏ ấy đi qua những chặng đường nguy hiểm, qua núi rừng và chiến khu, rồi trở thành khởi đầu cho những mẻ thuốc kháng sinh được làm ra trong điều kiện gần như không thể tưởng tượng đối với một phòng thí nghiệm.

Đó là hình ảnh đẹp về một trí thức khi đất nước cần.

Tri thức, nếu chỉ nằm trong những cuốn sách, có thể làm nên một nhà khoa học.

Nhưng khi tri thức được đem đến nơi con người đang cần nó nhất, nó trở thành một cách phụng sự.

Đặng Văn Ngữ đã chọn con đường ấy.

Và cuối cùng, ông cũng nằm lại giữa chiến trường, nơi ông đã đến không phải để cầm súng, mà để tìm cách giữ cho những người đang cầm súng được sống.

Tên tuổi ông vì thế không chỉ thuộc về lịch sử y học Việt Nam.

Nó còn thuộc về lịch sử của những con người đã đem trí tuệ của mình đi qua chiến tranh, qua thiếu thốn và qua hiểm nguy, để biến khoa học thành sự sống.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
ĐẶNG VĂN NGỮ – NGƯỜI MANG THEO MỘT ỐNG GIỐNG VỀ GIỮA RỪNG | Câu chuyện thời hoa lửa