Cựu chiến binh

Đặng Văn Thượng

Tây Ninh23/04/2026Đoàn phường Gia Lộc (Đoàn phường Gia Lộc)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo không có ruộng đất, chuyên đi làm thuê tại xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn (tỉnh Long An cũ). Năm 1940, cách mạng nổi dậy, cướp chính quyền xã. 1 người bác, 2 người chú và 1 người anh của ông tham gia cách mạng bị lính Pháp bắn chết, gia đình ông bị ghi vào sổ bìa đen của mật thám. Hình ảnh lính lê dương đàn áp phong trào cách mạng: giết người, đốt nhà, tra tấn, tù đày những người kháng chiến,… đã ghi khắc vào trong tâm khảm của chàng trai trẻ Đặng Văn Thượng. 16 tuổi, ông làm liên lạc đưa tin, thư từ, tài liệu cho cách mạng trong phạm vi huyện Đức Hòa. Ngày 19/8/1945, ông vào bộ đội giải phóng quân liên huyện Đức Hòa – Bà Điểm – Hóc Môn do ông Trần Văn Trà, Tô Ký, Huỳnh Văn Một chỉ huy, tham gia hàng chục trận đánh lớn, nhỏ cho đến ngày tập kết ra Bắc.

Đầu năm 1960, ông cùng 28 đồng chí khác vượt Trường Sơn về Nam. Trên đường đi, mỗi người phải mang ba lô nặng 30kg, trong đó có vàng và máy liên lạc vô tuyến điện Trung ương viện trợ cho Xứ ủy Nam Bộ. Trên đường đi, mảnh đạn còn sót lại trong phổi ông hoành hành, ói ra máu, tưởng đã phải nằm lại. Nhưng người lính Sáu Thượng không dễ dàng quỵ ngã và càng không thể quỵ ngã vì trước lúc lên đường về Nam, ông được ăn cơm với Bác Hồ, đã quyết tâm với Bác sẽ về đến miền Nam chiến đấu.

Trước lúc chia tay, Bác đã ôm chặt từng người, căn dặn: “Các chú đi trước, nhớ chuyển lời thăm hỏi của Bác tới đồng bào, đồng chí miền Nam ruột thịt. Rồi nhất định có một ngày, Bác sẽ vô thăm miền Nam”.

Cũng từ những người đầu tiên vượt núi, băng rừng ròng rã suốt 10 tháng trời mới về tới Chiến khu D (Mã Đà, Đồng Nai), tháng 12/1960, tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của chiến trường Nam Bộ được thành lập.

Đồng chí Hai Xô – Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ phụ trách quân sự lúc bấy giờ, nhấn mạnh: “Đây là đốm lửa, và sau này sẽ cháy thành rừng lửa, góp phần cùng toàn dân, toàn quân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.

Năm 1986, ông Sáu Thượng rời tỉnh Tây Ninh – quê hương thứ hai của ông – chuyển sang làm Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo việc nghiên cứu chương trình khai thác và phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng Tháp Mười – tứ giác Long Xuyên. Vào thời điểm ấy, Đồng Tháp Mười vẫn còn khoảng 335.000ha đất hoang hóa, chiếm 53% diện tích tự nhiên. Tập quán canh tác lâu đời của người dân trong vùng là sản xuất lúa mùa nổi và lúa mùa 1 vụ năng suất thấp (1-1,2 tấn/ha). Các cây trồng khác hầu như chưa phát triển. Đất đai bị phèn nặng, mùa lũ nước ngập sâu nhưng mùa khô lại thiếu nước ngọt.

Người lính già Sáu Thượng lại lặn lội khắp các đồng bưng Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang cùng các nhà khoa học nắm bắt và phản ánh kịp thời tình hình khai hoang, điều động dân cư vào khu vực Đồng Tháp Mười cho Ban Chỉ đạo và Chính phủ. Thậm chí để vận động nông dân sử dụng giống lúa mới, bỏ hẳn sản xuất lúa mùa nổi và lúa mùa 1 vụ năng suất thấp, chuyển sang sản xuất lúa 2 vụ, 3 vụ năng suất cao, ông Sáu và các nhà khoa học phải đến áp dụng chiến thuật “vết dầu loang”, vận động từ từ, nhà này làm hiệu quả, nhà khác học tập làm theo…

Khi Đồng Tháp Mười có lúa để xuất khẩu, ông lại tiếp tục tham gia công tác chỉ đạo việc nghiên cứu thực hiện chương trình thoát lũ ra biển Tây. Mãi đến năm 2000, khi ấy đã 74 tuổi, ông mới nhận được quyết định nghỉ hưu.

Nhưng người lính già Sáu Thượng vẫn chưa thể nghỉ ngơi. Thỉnh thoảng, Tây Ninh hay các tỉnh miền Tây cho xe lên thành phố mời ông về để “tư vấn” việc này, việc khác. Trung tuần tháng 01/2007, Ban Liên lạc Cựu chiến binh Chợ Lớn – Trung huyện lại bầu ông làm Trưởng ban.

Lương đại tá về hưu, khi ấy chỉ vài triệu đồng, ông đã chi hết 1,2 triệu đồng để trợ cấp cho 2 gia đình có công với cách mạng. Ông cười: “Ngôi nhà bác đang ở là nhà tình nghĩa đó. Năm 1990, Nhà nước cấp cho bác miếng đất nhỏ ở xã Bình Trị Đông, huyện Hóc Môn, bây giờ thuộc quận Bình Tân, lãnh đạo Tây Ninh và các tỉnh miền Tây góp tiền lại xây giúp”.

Về hưu, người lính già Đặng Văn Thượng đã có thể mãn nguyện khi có người cháu nội tiếp bước con đường binh nghiệp của ông. Mỗi đêm bên ngọn đèn bàn, ông ghi lại những hồi ức của mình, ông viết cho Báo Tây Ninh những trăn trở về đời sống người dân, về những vận hội mà Tây Ninh có được hay chưa nắm bắt được.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn