Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐÁNH ĐỔI

Trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, tác giả rời vị trí cán bộ chính trị để trực tiếp tham gia chiến đấu, bắt đầu từ Tiểu đoàn 86 của lực lượng kháng chiến tại vùng Bình Thuận. Khi đơn vị được tổ chức lại thành lực lượng đặc công xung kích, ông được giao chỉ huy phân đội xung kích tiếp chiến – mũi tiến công quyết định trong các trận đánh công đồn. Cùng đồng đội, ông tham gia nhiều trận tập kích và chiến đấu cơ động tại các khu vực như Mũi Né, Phan Thiết và vùng căn cứ Lê Hồng Phong

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tuy nhiên không phải bất cứ sự đố kỵ nào cũng hại cho mình.

Thời kháng chiến chống Pháp nhờ có sự “đố kỵ” mà người ta buông tôi để không còn là vật cản trong một chuyện tình. Nhờ thế tôi như chim sổ lồng thoát ra khỏi cái “rọ” của anh “công chức nhà binh” trong văn phòng chính ủy. Tôi nhận quyết định xuống tiểu đoàn chiến đấu, với nhiệm vụ phó ban công tác chính trị đại đội B tiểu đoàn 86 với hàm trung đội bậc trưởng (1) (ngang cấp thiếu úy bây giờ). Dạo đó giữa hè 1951 vừa lúc kỷ niệm ngày sinh thứ 21 của tôi.

Tôi đã đạt nguyện vọng bước một, được rời khỏi cơ quan. Sẽ tiến thêm bước nữa, bước mà tôi háo hức mong đợi là làm người lính chiến. Tôi không thích làm nhà “công tác chính trị”. Trên đả thông rằng tôi có phong thái con nhà chính trị hơn quân sự. Rằng tôi là Đảng viên Cộng sản đã kinh qua công tác Đảng, thường vụ chi ủy ở một cơ quan khá đông Đảng viên, quần chúng số đông là cán bộ, lại là cơ quan chỉ huy. Rằng được đào tạo căn bản về công tác chính trị có trình độ lý luận. Rằng chức danh tôi được bổ nhiệm có điều kiện thẳng tiến sau này. Tới đây không lâu phó ban công tác chính trị đại đội sẽ chuyển thành chính trị viên phó đại đội. Tôi sẽ là một trong số không nhiều cán bộ đại đội trẻ tuổi.

Lúc ấy tôi không màng danh này chức kia. Có thể tôi còn quá trẻ chưa biết nghĩ đến chuyện ló mòi đầu óc địa vị. Mộng ước của tôi trực tiếp cầm súng chiến đấu dù chỉ là một cán bộ tiểu đội.

Năm 1952 theo chỉ đạo Bộ Tổng Tư lệnh và Tư lệnh Liên khu 5, tiểu đoàn 86, tiểu đoàn chủ lực duy nhất còn lại của 3 tỉnh Cực nam Trung bộ giải thể. Các đại đội trở thành bộ đội địa phương chuyển thuộc cho các huyện đội Hàm Thuận, Bắc Bình... Làm nòng cốt phong trào du kích chiến tranh những vùng trọng điểm.

Tuyển chọn trong tiểu đoàn giữ lại một số cán bộ chiến sĩ tinh túy, trẻ, có kinh nghiệm chiến đấu thành lập bộ đội xung kích. Lực lượng này được xây dựng thành đơn vị tinh nhuệ thiện chiến. Đơn vị được huấn luyện tác chiến theo chiến thuật kỹ thuật đặc công chuyên công đồn diệt cứ điểm và có bộ phận cơ động ứng chiến cho các vùng xung yếu (gọi bộ đội vì tổ chức biên chế không như tiểu đoàn bộ binh quân số ít hơn nhưng chất lượng cao hơn. Chiến sĩ có trình độ ngang cấp tiểu đội trưởng hoặc tiểu đội phó. Cán bộ chỉ huy các cấp hạ một bậc).

Dịp may hiếm có, nhân biên chế đơn vị tôi xin “đánh dổi” chức phó ban công tác chính trị đại đội (đã trở thành chính trị viên phó ở các đại đội bộ binh) xuống làm phân đội phó hoặc tiểu đội trưởng xung kích. Người ta thảo luận cân nhắc rồi chấp nhận bố trí tôi làm phó một phân đội để xem khả năng quân sự tôi ra sao(?) (gọi phân đội vì quân số ít hơn một đại đội nhưng chất lượng cao hơn, số lượng đông hơn một trung đội bộ binh thông thường), những vị bề trên ở đây không ai biết tôi đã được đào tạo cơ bản có hệ thống và đổ đạt cao (thủ khoa trường trung đội trưởng) ở các trường huấn luyện cán bộ tiểu đội trưởng, trung đội trưởng. Chẳng mấy ai biết tôi khi còn là phó ban công tác chính trị đại đội B tiểu đoàn 86 thường được ủy quyền làm quyền bí thư chi bộ Đảng, quyền chính trị viên đại đội đã cùng đại đội trưởng Nguyễn Phương chỉ huy nhiều trận đánh phục kích, vận động phục kích tiêu diệt gọn nhiều tốp, toán địch, bắt tù binh thu vũ khí ở Kim Ngọc - Xoài Quỳ. Với cương vị trên chúng tôi chỉ huy đại đội B trong đội hình tiểu đoàn tấn công tiêu diệt căn cứ quan trọng bậc nhất của Pháp ở Bình Thuận là căn cứ Esépic trên dãy đồi cao Nam cách thị xã Phan Thiết l,5km. Căn cứ này có trận địa pháo 105 ly, sân bay. Thời thuộc Pháp, nó vốn là trường Cao đẳng Thể dục Đông Dương(1)

Lúc chiến đấu tôi ở cương vị trên theo sự phân công của ban chi ủy và ban chỉ huy đại đội. Đồng chí chính trị viên Nguyễn Tung lớn hơn tôi 8 tuổi. Anh quê miền Đông Nam Bộ. Anh tập trung chuyên lo xây dựng phong trào du kích chiến tranh vùng xung yếu nhất lúc đó là Tam Giác (sát cận thị xã Phan Thiết) tạo và giữ mối quan hệ gắn bó với chính quyền của ta ở các thôn xã, Đảng bộ địa phương những địa bàn hoạt động của đại đội. Còn tôi được phân công đảm nhiệm công tác chính trị trong chiến đấu.

Trong đại hội chi bộ đại đội tháng 7 năm 1951 có trên 80 Đảng viên (đại đội lúc bấy giờ quân số 150 người) tôi được bầu vào cấp ủy có chân trong thường vụ (theo điều lệ Đảng Cộng Sản Đông Dương) Đảng viên chi bộ đông như thế trong ban chi ủy có thường vụ).

Hai nhiệm vụ tác chiến và xây dựng phong trào có môi quan hệ hữu cơ. Cả hai đều quan trọng, nhưng xây dựng phong trào là trọng tâm, hàng đầu. Đây là chủ trương lớn của Bộ Tổng Tư lệnh, nên phân công anh Tung phụ trách công tắc này là phải lẽ.

Tôi cùng đại đội trưởng Nguyễn Phương và đại đội phó Lê Trọng Vĩnh gắn bó ăn ý nhau trong chiến đấu. Anh Phương lớn hơn tôi 9 tuổi như bậc đàn anh. Anh Tám Vĩnh có cô em gái thứ mười đồng tuổi tôi lại cùng quê. Anh thường nói nửa đùa nửa thật “cậu ưng mình gã nó cho”. Hai anh nhận xét tôi phải là cán bộ quân sự mới đúng tuy bề ngoài trông vẻ thư sinh. Hai anh biết mỗi lần xung trận tôi tuy là cán bộ chính trị nhưng không nhường bước một ai. Tôi không hô hào động viên suông mà dùng hành động của mình lôi cuốn người khác. Nhiều lúc ý kiến tôi giúp anh Phương sáng ra kịp thời xử lý các tình huống trong chiến đấu. Thậm chí đôi lúc bốc đồng tôi lạm quyền lấn sân anh tự ra những mệnh lệnh. Anh không lấy đó giận trách tôi, trái lại càng khuyến khích xem như kềm cặp chỉ vẽ tập sự cho tôi quen cách chỉ huy tác chiến. Có điều tôi cũng nhận thức không để quá đà, biết dừng đúng lúc.

Chuyển về đơn vị xung kích, các đồng chí chủ chốt trong ban chỉ huy đều ở liên khu 5 phái vào, chỉ biết tôi vốn công tác ở văn phòng, bây giờ theo biên chế mới, làm trợ lý công tác chính trị.

Một tháng sau tôi được bố trí làm phân đội trưởng phân đội xung kích tiếp chiến.

Biên chế bộ đội xung kích có 4 phân đội và cơ quan bộ(1). Ba phân đội đầu là:

- Đặc công trinh sát

- Đặc công chiến đấu

- Đặc công công binh

Chất lượng chiến sĩ và cán bộ được tuyển chọn rất kỹ. Chiến sĩ chẳng những có trình độ kỹ thuật chiến đấu điêu luyện còn có hệ thần kinh “thép” và thể lực bền bỉ dẻo dai.

Cả ba phối hợp cùng phân đội thứ 4 chuyên mật tập tiêu diệt các căn cứ, cứ điểm địch từ một đến hai đại đội trú đóng phòng thủ trở lên.

- Phân đội thứ tư: Đặc công xung kích.

Đơn vị này có 2 chức năng:

Một là: nếu phối hợp cùng 3 phân đội trên mật tập tiêu diệt cứ điểm, nó cũng giữ vai trò quyết định dứt điểm. Trong thực hành chiến đấu nó được sự hỗ trợ của đặc công công binh bí mật mở đường trước qua các bãi chướng ngại (nhiều lớp, nhiều kiểu rào dây thép gai, các loại mìn phát sáng, nổ tự động, chông tre chông sắt...), nó đưa lực lượng từ ngoài bí mật theo đường mở tìm nhập ém sát chân thành bìa hào chờ sẵn.

Đặc công chiến đấu có nhiệm vụ tìm nhập đặt bộc phá điện (loại bộc phá tự làm), ngòi nổ gắn dây điện kép dài ra bên ngoài. Toàn bộ hệ thống lô cốt đều xây bằng bê tông cốt thép âm sâu xuống đất bên trên phủ trùm dây thép gai đều bị các chiến sĩ đặc công ém đặt mỗi lô cốt từ một đến hai quả bộc phá điện, mỗi quả từ 2 đến 4 ký lô thuốc nổ TNT hoặc C4).

Khi tiếng bộc phá đồng loạt vừa nổ rền trời rung đất, đặc công xung kích đã ém sát tường thành lao lên thọc thật nhanh vào tung thâm cứ điểm như mũi dao nhọn chọc vào tim địch, dùng tiểu liên thủ pháo lựu đạn đánh diệt cơ quan chỉ huy, điện đài, trại lính, kho tàng, lô cốt mẹ, ụ chiến đấu, vọng cu quan sát, ổ đề kháng hầm ngầm… Gặp ổ đề kháng kiên cố bị chống trả mạnh chiến sĩ xung kích sử dụng súng chống tăng Bazoka (do binh công xưởng chế tạo) và bộc phá tiêu diệt. Như vậy khâu dứt điểm cuối cùng bên trong cứ điểm thuộc phân đội xung kích có tên gọi là xung kích tiếp chiến.

Tôi được cử làm phân đội trưởng phân đội này.

Đơn vị đã tham gia nhiều trận tiêu diệt lớn làm thối động hoang mang quân chiếm đóng, gây tiếng vang khắp vùng cực nam như các cứ điểm:

- Ngã Hai: một đại đội địch

- Sông Quao: một đại đội địch

- Tiểu khu Lương Sơn: hai đại đội và chính quyền ngụy cấp huyện.

- Tiểu khu mũi Né: hai đại đội và chính quyền ngụy cấp huyện, thu một đại bác 90 ly(2).

- Gia Bát: một đại đội địch.

Mỗi trận đánh chung cho cả đơn vị Xung kích và riêng phân đội tôi thương vong không bao nhiêu. Có trận vài đồng chí. Có trận không.

Chức năng thứ hai của phân đội, ngoài việc phối hợp tiêu diệt cứ điểm lại là đơn vị cơ động chiến đấu độc lập hỗ trợ bộ đội địa phương các huyện đánh địch bảo vệ phát triển phong trào. Địa bàn hoạt động phân đội tôi khá rộng bao gồm khu căn cứ địa Lê Hồng Phong (thường gọi khu Lê) huyện Hàm Thuận một phần huyện Hàm Tân. Chủ yếu khu Tam Giác sát nách thị xã Phan Thiết, một vùng điển hình cả các tỉnh cực Nam về phong trào du kích chiến tranh. Một vùng tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp. Tam Giác cũng là quê hương của tôi. Trong một trận đánh chúng tôi bắt sống một tên quan hai Pháp, hỏi nó cảm tưởng về vùng đất này. Nó bắt đầu ngao ngán thốt ra: “c’est le coin plus sale et plus dangereux”.

Làm nhiệm vụ đánh mật tập với chiến thuật đặc công tiêu diệt cứ điểm địch, phân đội được trang bị hầu hết tiểu liên các loại của Pháp sản xuất, thủ pháo, lựu đạn mỏ vịt (do ta sản xuất) bộc phá gói, một đến hai khẩu bazoka.

Làm nhiệm vụ cơ động, tôi biên chế phân đội có 3 tiểu đội bộ binh (mỗi tiểu đội được trang bị trung liên của Anh như Bren đầu bạc hay đầu đen, hoặc 24-29 của Pháp, 1 súng phóng lựu Mas 36, hai tiểu liên Tuile hoặc pistolet mas, còn lại súng trường Mas 36 (sau này chúng tôi thay toàn bộ bằng súng trường Môde kiểu Đức, chiến lợi phẩm trận tiêu diệt căn cứ Esépic) ngoài 3 tiểu đội bộ binh còn một tiểu đội súng máy 3 khẩu, một tiểu đội súng cối 60 ly 2 khẩu. Trang bị như thế ngụy quân không bì kịp. Quân Lê dương Pháp cũng không sánh nổi. Trong trận đánh vận động ở cánh đồng Nha Sang nằm giữa quốc lộ 1 và quốc lộ số 8 gần đôn và khu ấp đồng bào công giáo Tầm Hưng. Địch có đại đội Com-măng-đô trên 100 tên do tên quan hai Pháp Bernard nổi tiếng tàn ác đang truy kích vây bắt một tiểu đội của đại đội C bộ đội địa phương huyện Hàm Thuận. Chúng tôi kịp thời cứu viện anh em thoát vây. Mặc dù quân số ít hơn địch (chỉ 64 đồng chí) nhưng với hỏa lực áp đảo của chúng tôi đánh tan bọn biệt kích khát máu của Pháp, bắn hạ tên Bemard và nhiều tên khác, buộc tháo bỏ cấp hiệu phù hiệu (chúng phải vứt áo để dễ băng bó) kéo nhau chạy tan tác ra quốc lộ 8 và đồn Tầm Hưng.

Một điều khá dễ dãi của cấp trên đối với tôi là tôi được phép tự tổ chức biên chế, tự tuyển quân bổ sung, tự huấn luyện và trang bị. Quân số của phân đội thường trên 60 người. Trong tuyển quân tôi không bao giờ đụng đến anh em dân quân du kích làm giảm sức chiến đấu của địa phương. Ngược lại đến đâu là giúp huấn luyện kềm cặp họ, phối hợp cùng họ chiến đấu.

Được trang bị mạnh, tinh thần chiến đấu cao, bạn bè tin cậy (bộ đội địa phương và dân quân du kích) nhân dân yêu mến hết lòng chăm sóc nuôi dưỡng. (Bộ đội chúng tôi thời đó chỉ được chính quyền kháng chiến cấp thứ duy nhất là gạo. Đến xã nào xã đó xuất kho cấp. Quần áo mặc từng cá nhân tự lo lấy. Thực phẩm ăn hàng ngày đơn vị tự xoay xở không có kinh phí. Tự lo, tự xoay xở nhưng cũng đều từ dân mà có. Miếng ăn cái mặc đến đôi dép mang dưới chân, chiếc khăn lau mặt, bàn chải đánh răng, chai dầu xoa v.v... cũng do dân lo liệu hết…) Cộng với bản lĩnh vững vàng chúng tôi không hề chối bỏ chuyện đương đầu với bất cứ loại quân nào của Pháp. Quần nhau với quân nhảy dù tại cánh đồng xã Dâu Thạnh (Hồng Sơn) cạnh chân núi Tà Dôn. Đánh chặn từng bước suốt ngày quân Lê dương Pháp đổ bộ tái chiếm Mũi Né ở Rạng, Bàu Sen. Đánh tan, truy kích đại đội Com-Măng-đô Pháp lần thứ hai tại cánh đồng lúa xã Hàm Phú. Đánh bại quân Pháp có xe tăng yểm trợ càn quét vào Xóm Rơ xã Hàm Chính (Tam Giác) bảo vệ thôn ấp này không bị đốt phá cùng nhiều trận khác.

Riêng tôi, ước nguyện ấp ủ bao năm đạt được, tôi như con chim bay bổng lướt gió đó đây ở tuổi hăm hai - hăm ba, đã cùng đơn vị mình (mà hầu như cán bộ chiến sĩ dưới quyền đồng hạng tuổi tôi trở xuống) vùng vẫy, in dấu chân mọi nơi thật “thỏa chí tang bồng” trong sự trìu mến yêu thương của các bậc cha mẹ, các em nhỏ, các cô gái “ ... đợi ngày mai chiến thắng chớ quên trở về làng xưa. Em vẫn mong chờ. Đến ngày ấy đôi ta cùng mơ... ”.

Tôi không hề hối tiếc sự “đánh đổi” này.

Sau đó, trước ngày tập kết ra Bắc, tiểu đoàn 86 được khôi phục. Người ta bố trí tôi vẫn giữ chức trung đội trưởng bộ binh mãi đến năm 1955. Sau đó đảm nhiệm chức vụ đại đội phó đại đội trợ chiến trực thuộc trung đoàn 812, nhưng với cấp trung đội bậc trưởng.

Nếu tính từ ngày tôi được phong trung đội phó sau khi đỗ đầu khóa đào tạo trung đội trưởng 1949, tôi làm cán bộ trung đội 7 năm. Tuy đại đội phó vẫn mặc áo hai túi vá vai với 32 “đường gian khổ” (khi ra Bắc, quân đội ta mặc quân phục thống nhất do Trung Quốc viện trợ. Cán bộ đại đội bậc phó trở lên mặc áo cổ đứng có 4 túi, cán bộ trung đội bậc trưởng trở xuống mặc áo hai túi trên. Nơi vai để mang vác khỏi chóng rách người ta may đệm mỗi vai 16 đường chỉ. Anh em gọi “32 đường gian khổ”).

Không phải vì thế mà tôi buồn.

Với tôi thì mãn nguyện. Được trực tiếp đánh giặc làm tròn đầy đủ bổn phận dù ở cương vị công tác nào, lại còn sống được ra Bắc gặp Bác Hồ, Võ đại tướng... Tôi đã may hơn bao anh em không được phước như mình đã ra đi vĩnh viễn...

Thế cũng quá đủ, tôi không ân hận gì.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn