Khác

Danh nhân Phan Huy Chú

Phan Huy Chú sinh năm Nhân dần 1782 và mất năm Canh Tý 1840. Phan Huy Chú tên tự là Lâm Khanh, hiệu Mai Phong, thuở nhỏ có tên là Hạo sau đổi tên là Chú. Ông là con trai thứ ba Phan Huy ích. Tổ tiên gốc ở làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An sau di cư ra Sài Gòn tức là làng Thầy phủ Quốc Oai, trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Hà Tây.

TP. Hồ Chí Minh18/08/2026Đoàn xã Cát Tiên 3 (Cát Tiên 3)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phan Huy Chú sinh ra và lớn lên trong gia đình khoa bảng, hai bên nội ngoại đều có người làm quan. Do vậy từ nhỏ ông được nuôi dạy rất chu đáo. Vốn thông minh lại cần cù, ông nổi tiếng hay chữ khắp vùng, nhưng hai lần đi thi chỉ đỗ tú tài, nên người đương thời gọi ông là kép thày.

Tuy nhiên tiếng tăm của ông đã lan đến kinh đô. Năm 1821. Minh Mệnh đã triệu ông vào Huế cho giữ chức Biên tu trường Quốc Tử Giám. Năm 1825 ông được sung sứ bộ sang Trung Quốc, khi về giữ chức Phủ thừa phủ Thừa Thiên. Năm 1829 được thăng Hiệp trấn Quảng Nam, rồi ít lâu bị giáng, trở về Huế giữ chức Thị độc ở viện Hàn Lâm. Năm 1831, được cử làm Phó sứ phái sứ bộ sang Trung Quốc. Nhưng khi trở về thì đoàn sứ bộ đều bị giáng chức vì tội "lộng qyền", Phan Huy Chú bị cách chức. Năm sau ông lại bị Minh Mệnh bắt đi công cán ở Giang Lưu Ba tức Inđônêsia ngày nay. Khi về ông được cử giữ chức Tứ vụ bộ Công.

Sau đó chán nản cảnh quan trường, ông viện cớ đau chân, xin từ quan lui về làng Thanh Mai, huyện Tiên Phong tỉnh Sơn Tây dạy học, viết sách, (nay là xã Vũ Thắng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây).

Cuộc đời làm quan của Phan Huy Chú thật ngắn ngủi và lận đận, hai lần bị giáng chức và cách chức nhưng điều đáng nói ở đây là sự đóng góp to lớn của ông về phương diện văn hóa bằng công trình biên khảo lớn và công phu: "Bộ Lịch triều hiến chương loại chí". Ngoài ra ông còn là tác giả của các tập: Hoàng Việt dư địa chí, Hoa thiều ngâm lục, Hoa trình ngâm lục, Dương trình kỷ hiến, Hải trình chí lược.

Phan Huy Chú bắt tay vào biên soạn bộ Lịch triều hiến chương lạo chí khi ông còn đi học, năm 1809 (Gia Long thứ 8) và đến năm 1819 thì hoàn thành. Năm 1821 khi làm Biên tu ở Viện Hàn Lâm ông dâng bộ sách này lên Minh Mệnh và được vua thưởng 30 lạng bạc, 1 áo sa, 30 cái bút và 30 thỏi mực.

Ðây là một bộ sách đồ sộ gồm 49 quyển khảo cứu về lịch sử và phân chia theo từng loại sự vật gọi là chí, ví dụ: Ðịa dư chí, Nhân vật chí, Khoa mục chí, Quốc dụng chí, Hình luật chí... mỗi chí kể lại công việc chuyên ngành kể từ tư liệu, đối chiếu sắp sếp rất công phu, suốt 10 năm, đóng cửa tìm tòi, khảo sát đính chính cho đến năm 1819 mới xong(b) .

Một điều đặc biệt là Phan Huy Chú đã đứng về phía lợi ích của nhân dân mà đi sâu vào chế độ ruộng đất để bênh vực người nghèo, chống lại chế độ chiếm hữu bóc lột của quý tộc. Ông nói "chế độ ruộng đất ở Bắc Hà từ trước đến nay sổ sách thiếu sót không thể kê cứu được. Nhưng đại thể ruộng đất của dân để mặc cho bọn cường hào chiếm đoạt. Hơn một ngàn năm nay những người làm vua làm chúa trong nước không ai khôi phục lại chế độ ruộng đất của đời cổ để trừ tai vạ cho dân". Ðó là những nhận thức tiến bộ trong một xã hội phong kiến đương thời.

Sau Lê Quý Ðôn (1726-1784) thì Phan Huy Chú nổi lên như một nhà bách khoa, một danh nhân văn hóa Việt Nam tiêu biểu khi ông mới 37 tuổi. Ông mất năm 1840, thọ 59 tuổi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn