DANH TƯỚNG NGUYỄN THIỆN THUẬT – LINH HỒN KHỞI NGHĨA BÃI SẬY, BẬC TRUNG THẦN CẦN VƯƠNG KHẲNG KHÁI VÀ NGỌN CỜ ĐẦU CHỐNG THỰC DÂN PHÁP THẾ KỶ XIX
Trong phong trào Cần Vương kháng chiến chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX, cuộc Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 – 1889) tại vùng đồng bằng Bắc Bộ nổi lên như một điểm sáng chói lọi về nghệ thuật chiến tranh du kích và tinh thần chiến đấu ngoan cường. Người đứng đầu, linh hồn tổ chức và chỉ huy cuộc khởi nghĩa oanh liệt ấy chính là Tướng quân Nguyễn Thiện Thuật (1844 – 1926) – danh nhân quân sự kiệt xuất, vị lãnh tụ Cần Vương bất khuất mà nhân dân và nghĩa quân trân trọng tôn vinh là Bắc Kỳ Hiệp thống Quân vụ Đại thần (thường gọi kính cẩn là Cụ Tán Thuật).
Bậc quan lại thanh liêm, dốc lòng vì nghĩa nước:
Nguyễn Thiện Thuật (tự Mạnh Hiếu) sinh năm 1844 tại làng Xuân Dục, tổng Xuân Dục, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương xưa (nay thuộc phường Bạch Sam, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên).
Là dòng dõi danh tướng Nguyễn Trãi, ông nổi tiếng thông minh, cương trực và đỗ Cử nhân năm 1876. Dưới triều Nguyễn, ông từng giữ chức Bang biện quân vụ, Tri phủ Từ Sơn, rồi Tán tương Quân vụ tỉnh Hải Dương (nên dân gian thường gọi là Cụ Tán Thuật). Khi triều đình Huế nhu nhược ký các hiệp ước đầu hàng dâng đất nước cho giặc Pháp, ông đã kiên quyết từ quan, không chịu cúi đầu trước ngoại bang, quyết tâm phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước.
Lãnh tụ kiệt xuất của Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 – 1889):
Hưởng ứng Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, Nguyễn Thiện Thuật đứng ra thống nhất các toán nghĩa quân quanh vùng đồng bằng sông Hồng, chọn vùng lau sậy rậm rạp, đầm lầy hiểm trở Bãi Sậy (thuộc các huyện Khoái Châu, Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Giang tỉnh Hưng Yên) làm căn cứ kháng chiến.
Vua Hàm Nghi phong cho ông chức Bắc Kỳ Hiệp thống Quân vụ Đại thần, trao toàn quyền chỉ huy phong trào kháng chiến chống Pháp ở toàn bộ khu vực châu thổ Bắc Kỳ.
Bậc thầy nghệ thuật chiến tranh du kích vùng đồng bằng:
Dưới sự lãnh đạo tài tình của Nguyễn Thiện Thuật, nghĩa quân Bãi Sậy đã sáng tạo nên lối đánh du kích luồn sâu,xuất quỷ nhập thần ngay tại vùng đồng bằng:
Tận dụng triệt để địa hình bưng sậy, kênh rạch, lập các cứ điểm bí mật liên hoàn, biến làng xóm thành pháo đài chiến đấu.
Ban ngày nghĩa quân phân tán làm dân cày ruộng, ban đêm tụ họp tập kích đồn bốt, phục kích các đoàn tàu xe hỏa, ca nô tiếp vận và bẻ gãy hàng loạt cuộc hành quân càn quét quy mô lớn của quân viễn chinh Pháp.
Tên tuổi của Cụ Tán Thuật cùng các tướng lĩnh Đốc Tít, Đốc Sung, Đề Ban... đã gieo rắc nỗi khiếp sợ kinh hoàng cho các đạo quân xâm lược Pháp suốt nhiều năm liền.
Khí tiết kiên trung bất khuất trước quân thù:
Khi giặc Pháp dùng mọi thủ đoạn thâm độc: mở các chiến dịch càn quét khốc liệt, dồn dân lập ấp, chặt phá lau sậy,thậm chí dùng bổng lộc mua chuộc và đào mồ mả tổ tiên hòng lung lay ý chí của ông, Nguyễn Thiện Thuật vẫn khẳng khái cự tuyệt, một lòng sắt son với đại nghĩa dân tộc.
Năm 1889, trước vòng vây siết chặt và hỏa lực vượt trội của địch, để tìm phương sách củng cố lực lượng lâu dài cho cách mạng, ông chuyển sang phong trào Đông Du, sang Trung Quốc phối hợp cùng các nhà cách mạng lưu vong như Phan Bội Châu tiếp tục mưu đồ phục quốc. Ông tạ thế tại Nam Ninh (Trung Quốc) vào năm 1926, giữ trọn khí tiết của một bậc chí sĩ tận trung báo quốc đến hơi thở cuối cùng. Đến năm 2005, di cốt của ông đã được Đảng, Nhà nước và dòng tộc trang trọng hồi hương về an táng tại quê nhà Hưng Yên.
Sự tri ân đời đời của non sông, đất nước:
Công lao to lớn và tài thao lược quân sự của Tướng quân Nguyễn Thiện Thuật đã tạc vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng bất tử của tinh thần tự cường và ý chí quật khởi chống ngoại xâm.
Để đời đời ghi nhớ công ơn, tên tuổi của Nguyễn Thiện Thuật được trang trọng đặt cho các trường học, địa danh lịch sử và những tuyến phố huyết mạch lớn tại Thủ đô Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh (Quận 3), Đà Nẵng, Nha Trang,Hải Phòng, Hưng Yên... mãi mãi là niềm tự hào của muôn thế hệ người dân đất Việt.



