ĐÁNH VÀO ĐƯỜNG SẮT PHỐI HỢP VỚI ĐIỆN BIÊN PHỦ
Đoạn kể nói về hoạt động chiến đấu của đơn vị S20 trên tuyến đường sắt Hải Dương – Cẩm Giàng trong thời gian diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Với nhiệm vụ phối hợp chiến trường, các chiến sĩ liên tục đặt mìn đánh tàu quân sự, phá hủy đầu tàu và nhiều toa xe chở quân, vũ khí của địch. Họ còn sáng tạo nhiều cách đánh mưu trí như kết hợp “mìn điện tự động”, “mìn sờ” và mìn chống tăng để tiêu diệt cả tàu hỏa, xe cơ giới và lính đến giải quyết hậu quả. Dù bị địch tăng cường phục kích, rải m
Tiếng súng mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ vừa nổ, thì cũng là lúc chúng tôi đánh vào đường số 5. Với khẩu hiệu "Không ngừng tiếng súng, không ngừng tiếng mìn trên đường 5 để phối hợp với Điện Biên Phủ", đêm 13-3-1954, bộ đội ta đã tiến công san bằng hàng chục đồn bốt của địch trên đất Kim Thành, Cẩm Giàng. Trong đêm ấy, đơn vị "S20" được phân công dùng mìn chặn quân tiếp viện của địch ở cổng Chông phía bắc thị xã Hải Dương. Sau đó, được lệnh của tỉnh đội chia đơn vị làm hai bộ phận - một cắm chốt ở Gia Lộc để đánh địch ở đường 17 và đường 20, một bộ phận do tôi trực tiếp phụ trách, lên phía bắc Cẩm Giàng để đánh địch trên đường sắt. Từ đó, chúng tôi đã liên tục chiến đấu ở đoạn đường từ thị xã Hải Dương đến thị trấn Cẩm Giàng cho đến ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc.
Lúc này, trình độ kỹ thuật, chiến thuật đánh mìn của ta đã phát triển lên mức độ cao. "Mìn điện tự động" đã được chúng tôi vận dụng đánh địch một cách phổ biến trên đường sắt Cẩm Giàng và đã nghiên cứu nâng cách đánh này lên đỉnh cao mới, giải quyết thành công "mìn điện tự động" đánh trúng đầu tàu đối với bất cứ quy luật đi lại hoặc bố trí đoàn tàu của địch theo kiểu nào. Chúng tôi cũng đã nghiên cứu hoàn chỉnh "mìn điện bán tự động" đặt ở vị trí thích hợp để lựa chọn đánh vào những mục tiêu theo ý muốn - tạm gọi là "mìn điên tự động theo ý muốn", nhằm đánh những đoàn tàu quân sự, loại bỏ tàu dân sự.
Với cách đánh lợi hại này, gần 150 ngày đêm chiến đấu ở đất Cẩm Giàng, chúng tôi đã đánh hàng chục trận mìn trên đường sắt, phá hủy 17 đầu tàu, lật đổ 85 toa xe chuyên chở binh lính, vũ khí, hàng quân dụng của địch chi viện cho đồng bọn đang bị quân ta bao vây ở Điện Biên Phù và các chiến trường. Những đoạn đường Hán Thượng, Đồng Niên, Cao Xá, An Tĩnh, Đức Trạch, Chùa Dê, Mai Trung, Kinh Nguyên, Ngặt Kéo... là những địa danh mãi mãi ghi lại chiến công oai hùng của những chiến sĩ đánh mìn "S20" trong thời gian chiến đấu phối hợp với bộ đội chủ lực của ta ở mặt trận Điên Biên Phủ năm 1954.
Mỗi trận đánh là một chiến công. Mỗi chiến công đều có những đặc sắc riêng của nó. Một số trận đánh tiêu biểu nổ ra trong những ngày tháng 4, tháng 5 năm ấy, đã để lại cho chúng tôi những điều kỳ diệu khó quên.
Ngày mồng 6 tháng 4 nãm 1954, trên quãng đường Đồng Niên - Cao Xá, chúng tôi thực hiện một trận đánh liên hoàn - cả đường sắt lẫn đường bộ (đường phụ cận đường tàu), kết hợp "mìn điện tự động" đánh tàu với "mìn chống tăng" và "mìn sờ" để diệt xe và binh lính của chúng đến giải quyết hậu quả sau khi lật đổ các đoàn tàu.
Trận này, chúng tôi đặt 2 quả mìn đánh trên đường sắt, mỗi quả 40 cân thuốc nổ, cách nhau chừng 500 mét, để đánh 2 đoàn tàu trong ngày. Tại hố đặt "cạm điện" của 2 quả mìn này, mỗi hố chúng tôi đặt một ổ "mìn sờ", nhằm diệt những tên địch đến móc lấy hòm điện sau khi những quả mìn đã nổ tung trên đường sắt; và đặt 2 quả chống tăng ở đường phụ cận nằm sát đường tàu để đón đánh những chiếc xe đến giải quyết chiến trường.
Trận đánh đã diễn ra đúng kế hoạch. Cả 5 quả mìn đều nổ rất chính xác. Một ngày lật đổ 2 đoàn tàu quân sự của địch, phá hủy một xe tăng, một xe díp chở 2 tên sĩ quan đến quan sát trận địa. Hai quả "mìn sờ" cũng diệt hơn 10 tên địch. Quang cảnh trận địa ngổn ngang tàu đổ, binh lính địch ngược xuôi cả ngày mà không giải quyết xong hậu quả. Đêm đó, chúng phải cho xe tăng đến mai phục và bắn cầm canh suốt đêm để bảo vệ những đoàn tàu bị lật đổ. Đường sắt bị cắt đứt, giao thông vận tải bị ngừng trệ hoàn toàn suốt 3 ngày.
Sau đó không lâu, cũng đoạn đường này, với kế nghi binh, chúng tôi đã đánh thắng một trận rất bất ngờ đối với địch. Đêm mồng 2 tháng 5 năm 1954, tổ đào hố mìn đang làm nhiệm vụ, thì bỗng có hàng loạt súng trung liên bắn xối xả vào chỗ chúng tôi, làm một chiến sĩ bị thương nhẹ. Tôi ra lệnh nổ súng bắn lại và cho anh em nhanh chóng rút khỏi mặt đường. Đồng chí Đính - đội phó, phát hiện thấy địch bắn ra từ trong những toa tàu bị lật đổ lần trước, liền có sáng kiến rúc lên những hồi còi gay gắt chói tai rồi hô to: "Không được bắn, đuổi bắt sống lấy chúng nó!"... Được đà, tôi cũng hô tiếp: "Trung đội 1 bên phải, trung đội 2 bên trái - đuổi bắt sống lấy chúng nó!". Thực ra, lúc đó chúng tôi chỉ có hơn 10 người với 4 khẩu súng trường, 2 tiểu liên, còn lại là mìn, dây điện, xà beng, thúng và vải bạt dùng để đựng đất đá khi đào hố mìn.
Thấy chúng tôi hô dõng dạc, mạnh mẽ và còi rúc liên hồi, bọn địch phục kích hoảng sợ, bỏ chạy về bốt Đồng Niên, dùng súng cối và đại liên bắn ra uy hiếp. Sau một hồi bọn chúng bắn vu vơ, trận địa trơ lại yên tĩnh. Chúng tôi lên mặt đường xem xét tình hình rồi chuẩn bị đánh tiếp. Bị địch nổ súng bất ngờ, chúng tôi không kịp thu dọn, nên lúc này đất đá mới đào lên tung tóe cả xung quanh hố mìn. Thấy vậy, tôi nảy ra một ý định: đánh tiếp ngay vào những hố mìn đang đào dở dang này, mặc dầu địch đã phát hiện được chúng tôi cách đây mấy chục phút.
Sau khi kiểm tra tình hình, bố trí lại các tổ bảo vệ, chúng tôi lại đào thật sâu hố cũ, khoét ngang sang một bên, đặt quả mìn 40 cân vào đó, lấp chặt đất đá đến lưng chừng hố, rồi để hở không ngụy trang. Làm như vậy để đánh lạc hướng quân địch - cho rằng, sau khi bị bắn dữ dội, chúng tôi đã bỏ chạy không đánh nữa. Thực tế chúng tôi đã đặt xong 2 ổ mìn theo kiểu này cách nhau chừng 300 mét để đón đánh hai đoàn tàu trong ngày.
Đúng như dự đoán, sáng hôm sau (3-5-1954), bọn địch từ bốt Đồng Niên đi kiểm tra đường. Vừa tới nơi chúng tôi đặt mìn, thấy đất đá rơi vãi tứ tung và miệng hố đào dở còn bỏ nguyên đó, chúng liên kêu lên: "Đ... mẹ nó, đêm qua không nã đạn vào bọn Việt Minh thì hôm nay mất đầu cả lũ!". Nói xong, chúng gọi nhau lấy đất đá lấp chặt hố mìn, rồi yên trí đi tiếp về phía Cao Xá. Mìn của chúng tôi đã giữ được bí mật và sẵn sàng chờ nổ.
Khoảng 9 giờ sáng, đoàn tàu từ Hải Phòng vượt qua thị xã Hải Dương, đang hối hả lao về phía Hà Nội. Khi đến nơi chúng tôi đặt mìn - một tiếng nổ dậy đất - quả mìn có sức công phá bằng 40 cân thuốc nổ, đã nổ vào 3 toa cuối cùng chở lính, làm chết và bị thương 120 tên địch. Bọn chúng phải đưa 6 xe vận tải đến lấy xác chết.
Sau khi giải quyết xong hậu quả, cắt bỏ lại 3 toa phía cuối, đến quá chiều ngày hôm đó, đoàn tàu này chạy tiếp và khi tới quả mìn thứ 2, chiếc đầu tàu đã bị trúng mìn vỡ toác, kéo đổ theo 2 toa nữa. Việc vận chuyển trên đường sắt bị ngừng trệ cả đến ngày hôm sau.
Trận đánh nghi binh, biến bại thành thắng, đã phá hủy một đầu tàu, 5 toa xe, diệt 120 tên địch. Vì thế, trong buổi họp mặt mừng công ở đơn vị, một đồng chí cao hứng đã sáng tác một bài hò (theo điệu hò lơ) :
Ai về Cao Xá, Đồng Niên
Mà xem mưu mẹo đánh mìn của ta,
Chôn mìn, hố để hở ra,
Lính dò mìn đến giúp ta lấp vào.
Tàu qua, mìn nổ lật nhào,
Hỏi rằng tài trí ai nào hơn ai!
Nhiều trận mìn của chúng tôi nổ ra, vận tải đường sắt của địch liên tiếp bị cắt đứt. Để bảo vệ con đường chiến lược quan trọng này nhằm duy trì sự vận chuyển chi viện cho các chiến trường, đặc biệt là chi viện cho các binh đoàn đang bị quân ta bao vây ở Điện Biên Phụ, đêm đêm bọn địch phải tung lực lượng đi phục kích, canh giữ từng đoạn đường, rải mìn ở các lối đi nhằm ngăn chặn và phát hiện không để một ai có thể đặt chân lên đường sắt. Ở những đoạn đường không có điều kiện rải quân bảo vệ thì có đêm chúng dùng pháo bắn cầm canh để uy hiếp, khống chế không cho chiến sĩ ta lên đường đặt mìn.
Phản ứng gay gắt của địch đã đem lại cho chúng tôi những khó khăn không nhỏ. Nhiều đêm bám đường, bám địch mà cũng không lên được đường làm nhiệm vụ, có lần còn xảy ra thương vong đối với một số chiến sĩ lên đường làm nhiệm vụ trinh sát do vấp phải mìn của địch.
Không thể ngồi khoanh tay trong lúc yêu cầu chiến đấu đang đòi hỏi khẩn trương. "Vỏ quýt dày, có móng tay nhọn", dần dần chúng tôi cũng tìm ra cách đối phó lại địch. Chúng tôi tổ chức lực lượng đánh đuổi tụi quân phục kích, buộc chúng phải giam chân trong đồn bốt, ban đêm không dám tung lực lượng ra đường; thành lập nhóm trinh sát tháo gỡ mìn và thường xuyên bám sát địch; chuẩn bị lực lượng sẵn sàng bám đường để chớp thời cơ quân địch sơ hở là lên đường đặt mìn được ngay. Thời kỳ này, đặt được một quả mìn vào đường sắt là một sự giành giật từng giờ, từng phút, từng đoạn đường với địch rất quyết liệt, có lúc còn tốn cả xương máu của chiến sĩ. Nhưng khó khăn hơn nữa lại là chúng tôi phải tìm ra cách đánh như thế nào trước thủ đoạn đối phó của địch để đạt hiệu quả chiến đấu cao. Đây là một việc cấp bách đòi hỏi phải vắt óc mà tìm ra cách đánh cho phù hợp với thực tế chiến trường. Chúng tôi đã tìm được cách đánh tốt hơn - cách "đánh trực tiếp" - nghĩa là mìn và "cạm điện" cùng một hố. Chúng tôi đã áp dụng cách này trên đường sắt Cẩm Giàng cho đến ngày hoà bình lập lại. 7 giờ sáng ngày 27-7-1954, khi Hiệp định đình chiến ký kết giữa ta và Pháp có hiệu lực - quả mìn cuối cùng của "S20" còn đặt ở đoạn đường Mai Trung - Kim Nguyên thuộc đất Cẩm Giàng đã được chúng tôi đào lên và khiêng về trước sự ngỡ ngàng, thất vọng của những tên lính viễn chinh bại trận!



