Bài viết

Đào Văn Tiến – người gọi tên muông thú Việt Nam bằng tiếng mẹ đẻ

Từ cuốn thuật ngữ sinh học xuất bản năm 1945 đến những chuyến khảo sát qua rừng núi Tây Bắc, Việt Bắc và miền Trung, Giáo sư Đào Văn Tiến đã dành cả cuộc đời để người Việt có thể học, nghiên cứu và bảo vệ thiên nhiên đất nước bằng chính tiếng Việt.

Đồng Tháp24/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1954, sau ngày hòa bình được lập lại ở miền Bắc, Giáo sư Đào Văn Tiến trở về Hà Nội nhận công tác tại Trường Đại học Sư phạm Khoa học.

Nơi ông và các đồng nghiệp tiếp quản được gọi là phòng thí nghiệm, nhưng bên trong gần như trống rỗng. Sau nhiều năm chiến tranh, thiết bị nghiên cứu thiếu thốn, sách chuyên ngành không đầy đủ, đội ngũ giảng viên và cán bộ khoa học còn rất mỏng.

Trước mắt họ là một nhiệm vụ không kém phần khó khăn: xây dựng nền khoa học của một đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh.

Đào Văn Tiến không bắt đầu công việc ấy từ con số không. Trước khi trở thành một trong những người thầy đầu tiên của ngành sinh học Việt Nam, ông đã có một hành trình dài chuẩn bị cả về kiến thức lẫn tinh thần.

Ông sinh năm 1920 tại thành phố Nam Định, trong một gia đình nhà Nho coi trọng lễ nghĩa và học vấn. Năm 1942, khi còn là sinh viên Đại học Đông Dương, Đào Văn Tiến đã cùng Đặng Vũ Kha nghiên cứu về máu và hoạt động sinh lý của tim loài ba ba dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Boris Noyer. Công trình được đăng trên tạp chí khoa học của trường vào năm 1943.

Năm 1944, ông tốt nghiệp cao học về động vật học và được giữ lại làm phụ giáo. Đó có thể là con đường thuận lợi đối với một trí thức trẻ. Nhưng khi ấy, trong các trường đại học, hầu hết kiến thức khoa học vẫn được giảng dạy bằng tiếng Pháp. Người Việt muốn tiếp cận khoa học hiện đại không chỉ phải vượt qua những vấn đề chuyên môn mà trước hết còn phải vượt qua một hàng rào ngôn ngữ.

Đào Văn Tiến hiểu rằng một nền khoa học độc lập không thể mãi vay mượn toàn bộ ngôn ngữ của người khác.

Năm 1945, ông xuất bản cuốn “Danh từ khoa học – Vạn vật học”, tập hợp và chuyển đổi hàng nghìn thuật ngữ thuộc các lĩnh vực sinh học, sinh lý học, động vật học, thực vật học và địa chất từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Cuốn sách góp phần tạo cơ sở để kiến thức sinh học có thể được giảng dạy và phổ biến bằng tiếng mẹ đẻ.

Công việc ấy tưởng như chỉ là tìm từ tương ứng, nhưng thực tế khó khăn hơn nhiều. Mỗi thuật ngữ phải vừa diễn đạt đúng bản chất khoa học, vừa ngắn gọn, dễ hiểu và có khả năng sử dụng lâu dài. Nếu dịch quá sát, từ ngữ có thể trở nên xa lạ; nếu diễn giải quá rộng, khái niệm lại mất đi tính chính xác.

Bởi vậy, trước khi lên rừng tìm kiếm và phân loại các loài động vật, Đào Văn Tiến đã góp phần “khai phá” một vùng đất khác: ngôn ngữ khoa học tiếng Việt.

Cuối năm 1946, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Người phụ giáo trẻ rời Hà Nội, lên chiến khu Việt Bắc và khoác áo Vệ quốc quân. Ông phục vụ trong Cục Quân y, cùng bác sĩ Từ Giấy tham gia biên tập báo Vui Sống, phổ biến kiến thức giữ gìn sức khỏe cho bộ đội và nhân dân.

Năm 1949, ông giảng dạy tại Trường Quân y sĩ. Trong hoàn cảnh kháng chiến thiếu thốn, những bài giảng sinh học và y học không chỉ nằm trên giấy. Kiến thức về cơ thể, bệnh tật, ký sinh trùng và môi trường có thể trực tiếp góp phần bảo vệ tính mạng người lính.

Năm 1951, ông chuyển sang giảng dạy tại Trường Khoa học Cơ bản và Sư phạm Cao cấp ở Tuyên Quang. Khi trường được chuyển sang Khu học xá Trung ương tại Nam Ninh, Trung Quốc, ông cùng Giáo sư Lê Khả Kế phụ trách các môn sinh vật học. Những học viên được đào tạo ở đây sau này tỏa đi nhiều địa phương, trở thành lớp cán bộ khoa học và giáo viên đầu tiên của nước Việt Nam mới.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đào Văn Tiến trở về Hà Nội. Trước những phòng thí nghiệm trống rỗng, ông và đồng nghiệp tự tay gây dựng lại cơ sở giảng dạy. Họ vừa tìm kiếm dụng cụ, sưu tầm mẫu vật, biên soạn giáo trình, vừa trực tiếp đứng lớp cho những sinh viên từ chiến khu trở về và những người còn ở lại trong thành phố.

Năm 1956, Trường Đại học Sư phạm Khoa học được chia thành Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Đào Văn Tiến tiếp tục giảng dạy, nghiên cứu và trở thành Chủ nhiệm Khoa Sinh học của Trường Đại học Tổng hợp.

Nhưng ông không muốn sinh học Việt Nam chỉ tồn tại trong giảng đường.

Để hiểu thiên nhiên đất nước, người làm khoa học phải bước ra khỏi phòng thí nghiệm. Từ cuối thập niên 1950, ông cùng các đồng nghiệp và học trò thực hiện nhiều cuộc điều tra động vật qua Thái Nguyên, Bắc Kạn, vùng châu thổ sông Hồng, Tây Bắc, Việt Bắc, Đông Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình rồi đến Gia Lai, Kon Tum.

Trang phục quen thuộc của người giáo sư là bộ quần áo dã chiến. Ông đi rừng, thu thập mẫu vật, đo đạc, ghi chép đặc điểm hình thái và hướng dẫn các cán bộ trẻ ngay trên thực địa. Sau mỗi chuyến đi, những chiếc tên địa phương, những quan sát rời rạc và các mẫu vật thu được dần được sắp xếp thành hệ thống khoa học.

Trong điều kiện đường sá còn khó khăn, phương tiện thiếu thốn và chiến tranh vẫn diễn ra ở nhiều nơi, mỗi chuyến khảo sát là một hành trình vất vả. Nhưng nếu không thực hiện công việc ấy, Việt Nam sẽ không biết đầy đủ mình có những loài động vật nào, chúng phân bố ở đâu, loài nào quý hiếm và cần được bảo vệ.

Giáo sư Đào Văn Tiến chỉ đạo chương trình điều tra khu hệ động vật, ký sinh trùng và côn trùng ở miền Bắc. Ông tham gia phát hiện, mô tả nhiều loài động vật; trong đó có voọc Hà Tĩnh và cu li nhỡ. Ông cũng xây dựng những khóa tra cứu phân loại đầu tiên dành cho nhiều nhóm động vật có xương sống của Việt Nam như ếch nhái, thằn lằn, rắn, rùa, cá sấu và chuột.

Những khóa phân loại ấy giống như những chiếc chìa khóa. Dựa vào đặc điểm hình thái được mô tả, người nghiên cứu có thể xác định một mẫu vật thuộc loài nào mà không phải hoàn toàn phụ thuộc vào tài liệu nước ngoài.

Các công trình tiêu biểu của ông gồm Khảo sát thú miền Bắc Việt Nam, Động vật học có xương sốngHỏi đáp về động vật. Riêng tập hợp các công trình điều tra cơ bản động vật học giai đoạn 1957–1980 đã ghi lại những dữ liệu nền tảng về khu hệ động vật nước ta. Theo Đại học Quốc gia Hà Nội, ông còn đào tạo hàng nghìn sinh viên và hàng chục tiến sĩ chuyên ngành động vật học.

Điều đáng quý là Đào Văn Tiến không chỉ muốn biết tên các loài vật. Từ sớm, ông đã đặt câu hỏi về số phận của chúng khi rừng bị thu hẹp và hoạt động khai thác thiên nhiên gia tăng.

Ông viết về việc xây dựng vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, bảo vệ rừng và gìn giữ động vật hoang dã. Năm 1974, khi đất nước còn trong chiến tranh, ông đã tham gia một hội thảo quốc tế với báo cáo về vấn đề môi trường tại miền Nam Việt Nam. Ông cũng nhiều lần đề xuất đưa giáo dục môi trường ra ngoài nhà trường để thiên nhiên không chỉ là đối tượng của giới nghiên cứu mà trở thành trách nhiệm của cộng đồng.

Trong giảng dạy, ông đặc biệt coi trọng sự trung thực. Với ông, một tài liệu chưa được kiểm chứng đầy đủ thì không nên vội vàng xuất bản chỉ để tìm kiếm lợi ích trước mắt. Khoa học không thể được làm theo lối nhanh chóng và dễ dãi.

Đó cũng là bài học ông truyền cho các thế hệ học trò: người nghiên cứu phải kiên nhẫn trước tự nhiên, thành thật trước dữ liệu và có trách nhiệm với xã hội.

Giáo sư Đào Văn Tiến qua đời ngày 3 tháng 5 năm 1995. Một năm sau, tập hợp các công trình điều tra cơ bản về động vật học Việt Nam của ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên. Trước đó, ông đã được phong học hàm Giáo sư, danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và được tặng Huân chương Lao động hạng Ba.

Di sản ông để lại không chỉ là những cuốn sách hay danh mục các loài động vật. Đó còn là một nền móng: hệ thống thuật ngữ để người Việt học sinh học bằng tiếng Việt; những dữ liệu giúp hiểu tài nguyên động vật của đất nước; và những thế hệ học trò tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy, bảo vệ thiên nhiên.

Từ phòng thí nghiệm trống rỗng năm 1954, Đào Văn Tiến đã cùng đồng nghiệp xây dựng nên một ngành khoa học. Từ những con đường rừng xa xôi, ông đưa muông thú Việt Nam vào sách vở và bản đồ khoa học thế giới.

Ông đã giúp người Việt gọi đúng tên thiên nhiên của mình – để hiểu, trân trọng và gìn giữ thiên nhiên ấy cho những thế hệ mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn