Đất Quảng - một thời con gái (3)
Trong lúc đa số các nữ chiến sĩ khi bị địch bắt đều đang tuổi thiếu nữ, chưa một lần yêu thì Nguyễn Thị Bé, bí danh Nguyễn Thị Hạnh (tên thường gọi là Bé Hạnh) là một phụ nữ đã có chồng...
Trong lúc đa số các nữ chiến sĩ khi bị địch bắt đều đang tuổi thiếu nữ, chưa một lần yêu thì Nguyễn Thị Bé, bí danh Nguyễn Thị Hạnh (tên thường gọi là Bé Hạnh) là một phụ nữ đã có chồng. Chị là chiến sĩ tình báo, vợ của sĩ quan tình báo tài ba Nguyễn Thanh Năm, bí danh Năm Dừa, người đã tổ chức hàng chục trận đánh biệt động xuất quỷ nhập thần gây cho địch những tổn thất vô cùng nặng nề…
Kỳ 3:Thủy chung như… chị Bé Hạnh!
Bà Trần Thu Hồng vẫy tắc-xi, đưa tôi đến thăm bà Bé Hạnh. Dọc đường đi, bà Hồng kể cho tôi nghe những kỷ niệm sâu sắc với chị Bé Hạnh trong những năm tháng ở tù: “Tôi gặp chị Bé Hạnh đầu năm 1970, khi chị bị địch chuyển từ nhà tù Non Nước vào giam ở Trại 2, nhà tù Phú Tài (Quy Nhơn). Chị ấy đẹp lắm. Là người đã dạn dày kinh nghiệm tổ chức đấu tranh, chiến đấu nên chị rất gan dạ, bản lĩnh, thực sự là một “thủ lĩnh” của chị em chúng tôi. Có lần chúng tôi đấu tranh, hô khẩu hiệu, bọn cai ngục cay cú ném lựu đạn cay vào phòng giam. Trong lúc chúng tôi hốt hoảng tìm cách bịt mũi, úp mặt xuống đất chịu trận thì chị Bé Hạnh đã bình tĩnh dùng khăn ướt chụp lấy quả lựu đạn rồi ném trả bọn địch, khiến bọn chúng bị trúng hơi cay ho sặc sụa, bỏ chạy tán loạn. Sau mỗi lần như vậy, chị lại bị bọn chúng tra tấn thập tử nhất sinh. Chúng cho chị là kẻ cầm đầu, chủ mưu chống chiêu hồi nên thẳng tay đánh đập. Có ngày chúng đánh chị cả chục lần. Khắp thân thể bê bết máu. Đánh xong, chúng lấy cả xô nước muối giội từ đầu xuống, có khi thì lấy muối hạt xát lên người chị. Chết đi sống lại cả trăm lần nhưng chị ấy không hề chùn bước…”.
|
Vợ chồng Năm Dừa - Bé Hạnh sau ngày cưới. Ảnh chụp lại từ tư liệu gia đình. |
Chị Bé Hạnh trong ký ức của người bạn tù Trần Thu Hồng ngày ấy, nay đã 65 tuổi, sinh sống cùng con cháu trong một ngôi nhà 2 tầng ở phường Hải Châu 1, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Hơn 40 năm kể từ ngày bị địch giam cầm, tra tấn chết đi sống lại trong lao tù, dấu tích của những trận đòn khủng khiếp ngày ấy vẫn còn hằn trên cơ thể bà. Ngồi tiếp chuyện chúng tôi, bà Bé Hạnh phải liên tục thay đổi tư thế để hạn chế những cơn đau nhức, chóng mặt. Thấy người bạn tù năm xưa thần sắc lộ vẻ mỏi mệt, bà Trần Thu Hồng ân cần nói:
- Chị nên đi đây đó thay đổi môi trường, tận hưởng không khí trong lành cho tâm hồn thoải mái. Ở trong nhà lâu quá không tốt cho sức khỏe đâu!
Bà Bé Hạnh cười buồn:
- Ngày trước, mỗi khi đi đâu cũng có anh ấy. Mười mấy năm nay kể từ ngày anh Năm mất, tôi chẳng muốn đi đâu. Mỗi khi có ý định cùng ai đó đi uống cà phê hay đi đây đó, tôi lại nhớ anh, cảm thấy như có lỗi với anh nên lại thôi.
Tôi không giấu được ngạc nhiên trước lời nói của bà Bé Hạnh. Ở tuổi 65, con cháu đề huề rồi, người chồng yêu quý cũng đã an giấc ngàn thu cả chục năm nay mà bà vẫn giữ quan niệm, sự thủy chung với chồng đến mức khắt khe như vậy. Bà Trần Thu Hồng ghé tai tôi nói nhỏ: “Nếu nói về đức tính thủy chung, son sắt với chồng thì khó ai sánh được với chị Bé Hạnh. Thời trẻ, chị Bé Hạnh đẹp nức tiếng, nhiều người mê mẩn, theo đuổi chị nhưng chị đều khéo léo khước từ, một lòng một dạ thủy chung với anh Năm”.
|
Bà Bé Hạnh (bên phải) và bà Trần Thu Hồng cùng vào bếp trong một lần hội ngộ. |
Bé Hạnh tham gia cách mạng từ khá sớm. Năm 1963, khi vừa bước vào tuổi trăng tròn, Bé Hạnh đã là một nhân vật tiêu biểu trong phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Hòa Vang (Quảng Nam). Với bản lĩnh gan dạ, dũng cảm, thông minh, nhanh nhẹn, khéo léo, Bé Hạnh nhanh chóng được tổ chức bồi dưỡng, đưa vào hoạt động tình báo trong tổ chức Tình báo Miền ở Quảng Nam-Đà Nẵng, một thời gian sau được chuyển về công tác ở Huyện ủy Hòa Vang, phụ trách công tác thanh, thiếu niên. Chị trở thành một trong những cánh chim đầu đàn tổ chức lực lượng thanh, thiếu niên xuống đường đấu tranh trong sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở huyện Hòa Vang. Đầu năm 1970, trong một lần đi hoạt động ở cơ sở, Bé Hạnh bị mật thám chỉ điểm, sa vào tay giặc. Chúng đưa chị về Phòng Nhì tra tấn dã man, giam vào nhà tù Non Nước, rồi chuyển vào nhà tù Phú Tài, một thời gian sau lại bị chuyển vào giam ở nhà tù Cần Thơ. Nhớ về những năm tháng oanh liệt ấy, bà Bé Hạnh kể:
Nếu chị Bé Hạnh được coi là một “thủ lĩnh” của những nữ tù binh trong đấu tranh chống lại kẻ thù ở chốn lao tù thì có một người phụ nữ khác lại luôn lo lắng, chăm sóc cho những nữ tù trẻ như Trần Thu Hồng. Chị được coi là người “Chị Cả” đảm đang, nhân hậu, hết lòng vì mọi người. Một con người như vậy lẽ ra phải được hưởng cuộc sống hạnh phúc, nhưng chiến tranh đã không cho chị có được điều đó. Cuộc đời của chị như một khúc nhạc trầm trong bản tráng ca. Bạn đọc sẽ được gặp gỡ “Chị Cả” trong nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng số tới. |
- Hồi ấy tôi hoạt động rất năng nổ, hăng hái, liên tục lập thành tích xuất sắc nên được các cô, các chú, các anh, chị yêu quý lắm. Năm tôi 16 tuổi, anh Trần Tấn Quyên, Chính trị viên của một đơn vị độc lập đem lòng yêu thương. Anh thường dạy tôi múa hát. Lúc bấy giờ tôi chả biết yêu là gì nên lúc nào cũng gọi anh bằng chú, xưng cháu. Anh ấy viết hơn 100 bức thư gửi cho tôi với lời lẽ yêu thương tha thiết, nhưng tôi bảo mình còn nhỏ, chiến tranh chưa biết lúc nào mới kết thúc nên không nhận lời. Giáp Tết Mậu Thân 1968, anh Quyên bị hy sinh. Sau này trong quá trình hoạt động, tôi gặp anh Năm Dừa (tên thật là Nguyễn Thanh Năm), hơn tôi 10 tuổi. Hồi ấy anh Năm rất nổi tiếng và có uy tín trong phong trào. Tôi rất ngưỡng mộ anh, người đã tổ chức hàng chục trận đánh lớn theo cách biệt động, đặc công xuất quỷ nhập thần, làm cho địch ở Quảng Nam-Đà Nẵng hồn xiêu phách lạc. Tình cảm anh Năm dành cho tôi vừa là sự ân cần, chu đáo của thủ trưởng, vừa là sự chân thành, ấm áp của tình anh em. Anh dìu dắt, hướng dẫn tôi làm cách mạng, chăm lo cho tôi từng li từng tí. Lần ấy anh tặng cho tôi chiếc nhẫn vàng, nói là kỷ vật ước hẹn để giữ lòng tin. Những ngày xa anh, tôi thường lấy vật kỷ niệm của anh ra ngắm. Một lần sơ ý, tôi đánh rơi chiếc nhẫn vàng xuống suối. Anh về, thấy tôi buồn, cứ ra suối mò tìm mãi nhưng không thấy. Anh liền tháo chiếc nhẫn đang đeo trên tay “đền” cho tôi, an ủi, động viên tôi đừng buồn nữa. Sau Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, chúng tôi trở thành vợ chồng bằng một đám cưới giản dị, ấm cúng, có sự chứng kiến của các anh lãnh đạo tỉnh và đặc khu Quảng Đà.
Vì nhiệm vụ cách mạng nên hai người chỉ ở bên nhau được một thời gian ngắn rồi phải xa nhau biền biệt. Từ ngày bị địch bắt, vợ chồng bặt tin nhau. Mãi đến khi thực hiện Hiệp định Pa-ri trao trả tù binh năm 1973, Bé Hạnh mới được đưa về Lộc Ninh và được tổ chức phân công làm ở Ban đón tiếp Lộc Ninh. Chị dò hỏi tin tức chồng nhưng không ai biết chính xác. Người thì bảo anh Năm đã hy sinh. Người thì nói, anh đã lấy vợ khác. Bé Hạnh như có lửa đốt trong lòng nhưng phải nén đau buồn để lo việc cách mạng. Chị được giao nhiệm vụ ngược lên vùng sông Măng sát biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, đến tháng 2-1974 thì chuyển về Mặt trận B3 ở Tây Nguyên, một thời gian ngắn sau được điều về công tác ở Khu đoàn 5. Lúc bấy giờ hai vợ chồng mới được gặp lại nhau. Bà Bé Hạnh kể: “Cái tin anh ấy có vợ trong lúc tôi đang ngồi tù khiến tôi giận lắm. Chỉ đến khi biết rõ sự thật, chúng tôi mới hiểu và cảm thông cho nhau, yêu thương nhau nhiều hơn!”.
Chị Bé Hạnh bị địch bắt giam vào lao tù một thời gian thì anh Năm Dừa nhận được tin, vợ đã bị kẻ thù tra tấn đến chết. Do yêu cầu nhiệm vụ nên một thời gian sau anh Năm đã xin phép tổ chức để đến với một người phụ nữ khác nhưng vì nhiệm vụ liên miên nên chưa kịp thực hiện ý định đó. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến tin đồn anh Năm có vợ khác đến tai chị Bé Hạnh. “Âu tất cả cũng chỉ do cái khắc nghiệt của chiến tranh tạo nên. Có những sự hy sinh, mất mát không thể đong đếm, không thể nói hết bằng lời. Nhưng vượt qua hết những khó khăn, thử thách, hy sinh, thì tình yêu, tình đồng chí đồng đội lại càng gắn bó bền chặt!”-Bà Bé Hạnh chiêm nghiệm.
Cứ tưởng những trận đòn tra tấn thập tử nhất sinh trong lao tù đã tước mất của chị thiên chức làm vợ, làm mẹ nhưng thật kỳ diệu, sau ngày vợ chồng tái ngộ, chị Bé Hạnh đã mang thai và sinh con gái đầu lòng, mẹ tròn con vuông.
Ký ức và câu chuyện tình của người bạn tù năm xưa trong một chiều mưa Đà Nẵng khiến bà Trần Thu Hồng rưng rưng cảm động. Bà quay sang tôi, vừa nói vừa khóc:
- Em không thể tưởng tượng nổi việc làm vợ, sinh con đối với bọn chị lại vĩ đại đến mức nào đâu. Được trở về từ cõi chết, cứ có ai lấy chồng là tất cả chị em bạn tù lại nơm nớp chờ mong. Ai mang thai, sinh con là tất cả lại khóc vì sung sướng, hạnh phúc. Ấy là bởi trong lúc ngồi tù, kẻ thù cứ nhắm vào những chỗ quan trọng nhất trên cơ thể nữ tù để mà đánh đập, tra tấn với mục đích triệt hạ tận gốc nòi giống cộng sản.
Vâng! Đến đây thì tôi đã hiểu, vì sao bà Bé Hạnh lại thủy chung với tình yêu của mình đến thế! Thủy chung đến mức khắt khe với chính bản thân mình. Có lẽ vì hạnh phúc, tình yêu của những cựu nữ tù không đơn thuần được nuôi dưỡng bằng trái tim mà đó là cả một kỳ tích của cuộc sống được nuôi dưỡng, tái sinh và vun đắp bằng chính máu xương của mình và biết bao đồng đội.





