Bài viết

ĐẤT VẪN CÒN ĐÂY, LỬA VẪN CÒN ĐÂY

ĐẤT VẪN CÒN ĐÂY, LỬA VẪN CÒN ĐÂY

Thái Nguyên17/07/2026Nguyễn Thị Xuân Hương (Ngoại ngữ)7 lượt xem0 lượt chia sẻ

Họ và tên: Nguyễn Thị Xuân Hương

Lớp: Sư phạm Anh A K46

Mã SV: DTF237140231023

Chủ đề: Những câu chuyện thời hoa lửa

ĐẤT VẪN CÒN ĐÂY, LỬA VẪN CÒN ĐÂY

Tôi tên là Nho.Tôi đi.

Không phải để trốn những ngày dài tấp nập, cũng không phải để tìm một thứ gì thật mới lạ. Tôi đi đơn giản vì một lần trên chuyến xe khách, người ta nhắc về một ngôi làng nhỏ nơi chân đèo, nơi mà người ta bảo rằng “thời gian như đứng lại”. Thế rồi tôi xuống xe ở một điểm không tên, giữa lúc hoàng hôn buông xuống những mái tranh nghèo. Làng im lìm trong sương khói chiều. Những bờ tre cong mình giữ đất, những lối mòn rêu phủ dấu chân người. Tôi bước đi không định hướng, và rồi tôi gặp bà. Bà Tám. Chín mươi hai tuổi. Bà ngồi trên bậc thềm căn nhà nhỏ cuối xóm, đôi mắt đã mờ, đôi tay gầy guộc nhưng vẫn se từng cọng mây. Tôi không nghĩ mình sẽ viết một bài báo hay một bài luận. Tôi chỉ nghĩ rằng mình đã lạc vào một câu chuyện cổ tích có thật. Và bà, bà là nhân vật chính. Bà cất tiếng chào tôi bằng một giọng sang sảng đến lạ: “Vào đây con, ngoài kia gió lộng. Ngồi xuống gốc mây, uống bát nước vối rồi nghe bà kể.” Tôi ngồi bệt xuống nền đất nện. Tay chạm vào mặt đất lạnh, hơi ẩm, tự dưng tôi thấy mình như chạm vào một mạch ngầm của lịch sử.

“Hồi ấy, con ạ, đất không chỉ nuôi lúa. Đất còn nuôi cách mạng.” Giọng bà khàn khàn như tiếng lá khô xào xạc trong những chiều cuối đông. Bà kể về năm 1948. Bà vừa tròn hai mươi tuổi. Chồng bà hy sinh ở chiến trường Nam Bộ chưa đầy một năm. Bà ở vậy nuôi đứa con trai mới biết bò, đặt tên là Cún. Ngôi nhà chỉ có hai mẹ con, nghèo đến mức mỗi bữa cơm phải độn sắn, độn khoai. Rồi một tối, có người lạ mặt dắt đến một thanh niên gầy rộc. Họ bảo: “Chị ơi, cho em nó ở nhờ vài hôm. Em là cán bộ ạ.” Bà chẳng hỏi tên, chẳng hỏi từ đâu đến. Chỉ nhìn cái nhìn của người thanh niên ấy vừa biết ơn, vừa lo sợ rồi bà nhận lời ngay. “Vài hôm” rồi thành ba năm. Bà đào hầm ngay dưới gầm phản, trong gian bếp. Đêm nào cũng đào, cũng đổ đất ra rổ, trút ra vườn chuối. Làm như chuột đào hang, lặng lẽ và cần mẫn. Nắp hầm là một tấm ván ghép, trên phủ một lớp đất nện trộn rơm, trông y hệt nền nhà. Trên ấy, bà đặt cái phản gỗ nơi bà ngồi se mây, nơi thằng Cún chơi đồ hàng, nơi bà bày mâm cơm mỗi khi có người lạ. “Tui sống trên cái nắp hầm đó ba năm. Ba năm nghe tiếng thở của người dưới đất.”

Rồi bà kể về những ngày giặc càn. Những ngày lưỡi lê có thể xới tung mọi thứ. “Có lần, con chó của bọn lính đánh hơi thấy người. Nó sủa dữ dội, lao vào gầm phản. Tim tui như ngừng đập. Tui bồng thằng Cún lên, ngồi chồm hổm lên nắp hầm. Tui bảo nó: ‘Con khóc đi, khóc thật to.’ Thằng bé sợ, khóc ré lên. Tui cũng khóc. Mẹ con tui khóc như mưa. Tên lính hỏi: ‘Dưới gầm giường có gì?’ Tui chỉ tay xuống đất, mắt đỏ hoe, bảo: ‘Có ma đấy, ông có muốn xuống không?’ Bọn chúng sợ ma, đứng nhìn nhau rồi kéo đi. Lòng tui lúc ấy như cánh diều đứt dây. Lúc chúng khuất, tui mới dám thở.” Tôi hình dung ra cảnh ấy. Một người đàn bà trẻ, giữa đêm tối, lấy tiếng khóc của con mình làm lá chắn, lấy nỗi sợ ma của quân thù làm vũ khí. Không có súng, không có dao. Chỉ có một trái tim nóng hổi và một tình yêu vô bờ bến với người lính xa lạ đang thoi thóp thở dưới hầm. Tôi chợt nghĩ: chiến tranh đã tôi luyện con người ta thành những thứ phi thường đến thế, mà khi bình yên, ta khó lòng hình dung hết.

Bà kể tiếp, giọng bỗng trầm xuống như nước chảy về đêm. “Đói lắm con à. Đói đến nỗi tui thèm một hạt cơm trắng đến phát khóc. Những năm ấy, lúa gạo thiếu thốn. Tui ăn củ mài, ăn rau rừng, ăn cám lợn trộn với rau luộc. Còn gạo trắng, tui dành hết cho chú Tư – tên người cán bộ. Chú ấy ốm, cần sức. Thằng Cún con tôi đói quá, nó nhìn bát cháo trắng, mắt thèm thuồng. Tui bảo nó: ‘Cơm để nuôi bác Tư đánh giặc. Con ăn cháo với mẹ.’ Thằng bé không hiểu, nó khóc. Tui bồng nó ra sau vườn, vừa ru vừa khóc. Có những đêm, tui thức trắng, nghe bụng mình kêu òng ọc, rồi nghe tiếng chú Tư ho dưới hầm. Thương chú, thương con, thương mình. Nhưng chẳng biết kêu ai. Chỉ biết bám vào lòng đất mà sống.” Tôi nghe đến đây, bỗng thấy mình thật nhỏ bé. Tôi nhớ những lần lãng phí cơm thừa canh cặn. Tôi nhớ những lần chê món này không ngon, món kia không hợp. Vậy mà có những con người, họ đã nhường từng hạt cơm, từng giọt cháo để nuôi một lý tưởng, để giữ một mầm sống cho đất nước. Ba năm trôi qua như một giấc mộng dài. Rồi chú Tư phải đi theo đoàn quân ra trận. Trước khi đi, chú đưa cho bà một ống tre, hai đầu bịt kín bằng sáp ong. Chú nói: “Mẹ giữ giùm con. Mai này hòa bình, con về lấy.” Chú không về. Chú nằm lại Điện Biên Phủ năm 1954. Có người đồng đội về báo tin. Bà kể: “Tui nghe xong, không khóc được. Mãi đến tối, thằng Cún hỏi: ‘Mẹ ơi, bác Tư đâu?’ Tui mới òa lên. Khóc không phải vì chú Tư chết. Khóc vì lời hứa bị gãy. Mình giữ ống tre cho người, nhưng người không còn đến lấy.”

Bà Tám chậm rãi đứng dậy, chống gậy vào buồng trong. Một lúc sau, bà trở ra, trên tay là một ống tre màu nâu sẫm, bóng loáng như được chà xát hàng ngàn lần bởi bàn tay và nỗi nhớ. Bà đưa cho tôi. “Con cầm xem. Nhẹ không?” Tôi cầm nó trên tay. Nhẹ hều. Lắc nhẹ, có thứ gì đó bên trong – có thể là giấy, có thể là không. Nhưng lòng tôi nặng trĩu. “Suốt bảy mươi năm nay, bà chưa một lần mở nó. Có người bảo bà ngu, biết đâu trong đó chỉ là mấy tờ giấy lộn, hay chẳng có gì. Nhưng con ạ, bà giữ nó không phải để xem bên trong có gì. Bà giữ nó để nhớ rằng, có một thời mình đã sống như thế, đã yêu thương như thế, đã hy sinh như thế. Có một thời mình đã có một người con xa lạ gọi mình bằng mẹ, và mình đã dám lấy tính mạng ra để che chở cho người con ấy.” Tôi hỏi bà: “Bà có buồn không khi không bao giờ biết bên trong ống tre là gì?” Bà lắc đầu, mỉm cười. Nụ cười không tủi thân, không tiếc nuối. “Buồn làm gì con. Cây chuối sau vườn bà trồng, nó không bao giờ ra buồng được nữa. Nhưng gốc rễ của nó vẫn còn trong lòng đất. Lịch sử cũng vậy. Lửa có thể tắt, nhưng tro vẫn còn ấm. Cái ống tre này với bà là cả tuổi trẻ. Bà sợ mở ra… là mất tuổi trẻ.”

Tôi trả lại ống tre cho bà. Trời đã tối hẳn. Tôi đứng dậy, chào bà. Ra về, lòng tôi nặng trĩu những suy tư. Tôi là Nho. Một sinh viên, một người trẻ đi tìm những câu chuyện cũ. Hôm nay, tôi không tìm thấy một huyền thoại xa vời. Tôi tìm thấy một người bà, một ống tre, và một lời hứa chưa bao giờ được giữ. Nhưng có lẽ, chính những điều dang dở ấy mới là thứ còn mãi với thời gian. Trên chuyến xe trở về phố thị, qua những cánh đồng lúa đang trổ đòng, tôi chợt nghĩ: Thời hoa lửa không chỉ là những trận đánh, những chiến công vang dội. Thời hoa lửa còn là những giọt nước mắt lặng thầm rơi trong bếp tối. Là những bát cháo trắng chia đôi. Là những người phụ nữ đã ngồi trên nắp hầm, lấy thân mình làm bức tường sống giữa bom đạn và hòa bình. Và hôm nay, khi tôi viết những dòng này, tôi không muốn kể về chiến tranh. Tôi muốn kể về lòng người. Về một thứ tình yêu không cần tên tuổi, không cần bia đá. Nó nằm lại trong một ống tre nhỏ bé, trong đôi bàn tay run rẩy của một người bà già, và trong trái tim của bất cứ ai đủ can đảm để lắng nghe.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn