Dấu ấn của Thượng tướng Vũ Lăng
Thượng tướng Vũ Lăng sinh năm 1921, quê ở xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Là một người thông minh, hiếu học, Vũ Lăng đã sớm tham gia cách mạng từ trước năm 1945. Tháng 11-1945, Vũ Lăng tham gia đoàn quân Nam tiến khi giặc Pháp gây hấn ở Sài Gòn, rồi lần lượt mở rộng chiến tranh ra toàn miền Nam và Nam Trung Bộ. Đơn vị do ông chỉ huy đã chiến đấu tại chiến trường Khu 6, thuộc tỉnh Bình Thuận ngày nay. Trong chiến đấu, ông đã có nhiều thành tích, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 2-1947.
Sau đó, Vũ Lăng được cấp trên điều động ra Bắc, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy quan trọng: Trung đoàn phó Trung đoàn Thủ Đô, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tháng 5-1954, ông là Tham mưu trưởng Sư đoàn 316. Hòa bình lập lại, năm 1956, Vũ Lăng được cử sang Liên Xô học ở Học viện Voroshilov. Kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ông được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng và đã đóng góp công sức vào các công tác chỉ huy chiến đấu trên nhiều mặt trận, tổ chức nghiên cứu khoa học phục vụ chiến đấu, đào tạo cán bộ quân sự. Trên cơ sở những đóng góp đó, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng (năm 1974), Trung tướng (năm 1980), Thượng tướng (năm 1986) và được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý. Đặc biệt, ngày 8-12-2023, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Quân đoàn 3 tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân đối với Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp và Thượng tướng Vũ Lăng.
Nhắc đến Thượng tướng Vũ Lăng phải nhắc đến thời kỳ ông làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (năm 1974); Phó tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên, Tư lệnh Quân đoàn 3 (năm 1975). Đây cũng là thời điểm then chốt ta mở Chiến dịch Tây Nguyên với đòn “điểm huyệt” Buôn Ma Thuột, làm rung chuyển và thay đổi cục diện toàn bộ chiến trường, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau này, khi đảm đương cương vị Giám đốc Học viện Lục quân, ông đã chỉ đạo nghiên cứu và tổng kết nhiều chiến dịch lớn, đặc biệt là Chiến dịch Tây Nguyên.
Mặt trận Tây Nguyên sau Hiệp định Paris năm 1973 luôn được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đặc biệt quan tâm. Khi điều Vũ Lăng vào chiến trường Tây Nguyên, cấp trên đã cho ông thể hiện tư duy quân sự chiến lược xuất sắc, đặc biệt là việc tổ chức các chiến dịch lớn hiệp đồng binh chủng. Vũ Lăng hiểu sâu sắc một điều rằng, muốn đánh thắng trên chiến trường phải thực hiện những đòn đánh mang tính chất “điểm huyệt”, “đánh giập xương sống” phòng thủ của địch, đánh vào nơi địch không ngờ tới, đánh thần tốc, đánh liên hoàn, đánh một trận lớn để mở ra các chuỗi trận liên tiếp khiến địch không kịp trở tay.
Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng từng nhắc đi nhắc lại khi trò chuyện với tôi: “Tính cụ Vũ Lăng thẳng thắn và sâu sắc lắm. Sau này, chúng tôi mới hiểu đường đi nước bước của các vị tướng như Vũ Lăng, Hoàng Minh Thảo, Đặng Vũ Hiệp trong Chiến dịch Tây Nguyên là một liên hoàn kế sách vượt địch một cái đầu, dẫn dắt chúng, lừa chúng vào thế trận đã được cài sẵn, điểm huyệt chúng, điểm huyệt cả quan thầy của chúng. Mà một trong những vị tướng sâu sắc nhất, trầm tính và linh hoạt nhất chính là Thượng tướng Vũ Lăng”.



