Bài viết

Dấu Ấn Rạng Đông Trên Đất Việt

Hưng Yên15/12/2025Nguyễn Văn Hoàng (Trường TH và THCS Tây Đô)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Dấu Ấn Rạng Đông Trên Đất Việt

Màn đêm buông xuống dày đặc như tấm màn nhung đen kịt bao trùm mảnh đất Đông Dương, một mảnh đất đã mòn mỏi dưới gót giày của ngoại bang gần một thế kỷ. Trong cái đêm dài dằng dặc ấy, không khí đặc quánh mùi thuốc súng, mùi mồ hôi chua chát của người dân phu, và tiếng xiềng xích lạnh lẽo vọng về từ những nhà tù tăm tối. Đó là năm 1920, và ở Việt Nam, ánh sáng của hy vọng dường như chỉ còn là một đốm than hồng sắp tắt.

Nhưng trong chính cái đêm đen tuyệt vọng ấy, ở một góc trời xa xôi, một ngọn lửa đã nhen nhóm. Nó không phải là lửa đốt đồng, cũng không phải lửa lò rèn, mà là ngọn "Bó đuốc trong đêm" – ngọn đuốc của tư tưởng cách mạng, của khát vọng giải phóng dân tộc.

Người đầu tiên mang ngọn đuốc đó chính là một thanh niên gầy gò, đôi mắt sáng như sao, mang tên Nguyễn Tất Thành, người sau này lịch sử gọi là Hồ Chí Minh. Ông đã rời bến cảng Nhà Rồng năm 1911, không mang theo vàng bạc châu báu, chỉ mang theo một bầu nhiệt huyết và một câu hỏi đau đáu: "Làm thế nào để cứu nước, cứu dân?"

Cuộc hành trình của Người như một chuỗi ngày dài đi trong đêm tối. Từ chiếc bếp lò bụi bặm ở Luân Đôn đến buồng tối in tráng ảnh ở Paris, Người vừa làm việc kiếm sống, vừa miệt mài học hỏi, nghiên cứu. Người không tìm kiếm một vị cứu tinh huyền thoại, mà tìm một con đường, một lý thuyết có thể biến khát vọng giải phóng thành hành động cụ thể.

Giữa thủ đô ánh sáng của nước Pháp, trong các cuộc tranh luận sôi nổi của Quốc tế Cộng sản, Người đã tìm thấy ánh sáng chân lý. Bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã đánh trúng vào tâm can Người, xua đi màn sương mờ của những học thuyết cải lương.

“Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Nói to lên một mình: Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”

Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ngọn đuốc của thời đại: Chủ nghĩa Mác-Lênin, ngọn đuốc soi rọi con đường cách mạng vô sản. Từ đó, Người quyết định: Việt Nam phải đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Ngọn lửa đã được nhóm. Nhưng làm sao để nó cháy lan, cháy rực lên giữa biển đêm bao la?

Sau khi tìm thấy con đường, Nguyễn Ái Quốc không giữ ngọn lửa ấy cho riêng mình. Người hiểu rằng, một cá nhân dù vĩ đại đến mấy cũng không thể làm nên lịch sử; cần phải có một đội ngũ, một tổ chức tiên phong.

Năm 1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người đã tổ chức ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – chính là những hạt giống đỏ đầu tiên được gieo trồng. Những thanh niên ưu tú như Lê Hồng Phong, Phạm Văn Đồng, Trần Phú, Võ Nguyên Giáp... đã được huấn luyện, truyền thụ ngọn lửa tư tưởng và phương pháp tổ chức cách mạng.

Những bài giảng của Người, sau này được tập hợp thành cuốn "Đường Kách Mệnh", không chỉ là sách lược mà còn là Cương lĩnh hành động, là ngọn đèn hải đăng dẫn lối cho những con thuyền đang lạc giữa đêm tối thuộc địa. Người dạy họ về Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, về vai trò của giai cấp công nhân, và quan trọng nhất, Người truyền cho họ lòng yêu nước chân chính, không mơ hồ, không cực đoan, mà phải gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.

Những người thanh niên ấy mang theo ngọn lửa về nước. Họ vượt qua trùng trùng điệp điệp lưới mật thám, giăng rắc những hạt giống cách mạng vào lòng quần chúng cần lao. Ánh sáng bắt đầu len lỏi vào các hầm mỏ, nhà máy, ruộng đồng. Từ những tờ báo bí mật như "Thanh Niên", "Công Nông", đến những cuộc vận động quần chúng ở làng quê, ngọn đuốc tư tưởng bắt đầu cháy âm ỉ.

Ánh sáng lan tỏa, nhưng đêm đen vẫn còn đó, và nó cần một sức mạnh tập hợp lớn hơn để rọi sáng toàn cõi Đông Dương. Sự phân tán của các tổ chức cộng sản non trẻ trong nước (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn) là một mối nguy lớn: nếu không thống nhất, ngọn lửa cách mạng có thể bị dập tắt bởi chính quyền thực dân.

Cần một tiếng nói chung, một tổ chức duy nhất để lãnh đạo.

Và rồi, vào đầu năm 1930, tại Cửu Long (Hương Cảng), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, một sự kiện lịch sử trọng đại đã diễn ra: Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đó không chỉ là một sự hợp nhất về tổ chức, mà còn là sự thống nhất về ý chí và con đường. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, đã khẳng định mục tiêu tối thượng: "Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập", rồi sau đó mới đi tới xã hội cộng sản. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam – đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3 tháng 2 năm 1930 như một tiếng sét đánh ngang trời giữa đêm tối nô lệ, chính thức biến ngọn lửa lý luận thành ngọn đuốc chính trị có tổ chức, có Cương lĩnh, có đường lối rõ ràng. Đảng trở thành đội tiên phong, là linh hồn và là trí tuệ của dân tộc.

Ngay sau khi thành lập, Đảng đã chứng minh vai trò lịch sử của mình. Mùa hè năm 1930, phong trào cách mạng bùng lên dữ dội, mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Giữa lúc bị thực dân Pháp đàn áp dã man, người dân Nghệ An, Hà Tĩnh đã đứng lên đấu tranh, từ tổng bãi công, bãi khóa đến biểu tình vũ trang. Họ đập tan chính quyền của bọn địa chủ, cường hào, thành lập các Xô Viết (hình thức chính quyền công nông) ở nhiều làng xã.

Đây là lần đầu tiên, dưới ánh sáng của Đảng, người nông dân Việt Nam làm chủ vận mệnh của mình. Dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng những ngày tháng Xô Viết Nghệ Tĩnh là một minh chứng hùng hồn: ngọn lửa cách mạng đã bén rễ sâu vào lòng quần chúng, không thể bị dập tắt. Đó là cuộc diễn tập đầu tiên, là lời tuyên chiến đanh thép với chế độ thực dân.

Năm tháng trôi qua, ngọn lửa ấy được tôi luyện qua bao thử thách: từ cao trào đấu tranh đòi Dân sinh, Dân chủ (1936-1939) đến những hy sinh anh dũng trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) và khởi nghĩa Bắc Sơn (1940). Hàng ngàn chiến sĩ cộng sản đã ngã xuống, nhưng mỗi giọt máu họ đổ ra lại nuôi dưỡng cho ngọn lửa lớn hơn, biến nó thành ngọn lửa của Lòng Dũng Cảm và Sự Hy Sinh.

Đến thập niên 1940, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, tạo ra một cơ hội lịch sử ngàn năm có một.

Nguyễn Ái Quốc trở về nước năm 1941, sau 30 năm bôn ba hải ngoại. Tại Pác Bó, Cao Bằng, Người đã triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh). Đây là một quyết định thiên tài, biến ngọn đuốc của Đảng thành ngọn cờ tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, từ công nhân, nông dân, trí thức đến tư sản dân tộc, miễn là họ cùng chung lòng yêu nước.

Việt Minh đã đưa ngọn lửa cách mạng về những vùng rừng núi căn cứ địa, nơi những đội tự vệ, đội du kích được thành lập. Các chiến sĩ đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, mang theo cây súng và niềm tin vào thắng lợi, trở thành những người giữ lửa kiên cường nhất.

Năm 1945, khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, tình thế cách mạng đã chín muồi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi lịch sử:

“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta!”

Ngọn đuốc cách mạng bùng lên thành ngọn lửa toàn dân tộc, soi rõ mọi ngõ ngách, mọi thành thị, thôn quê. Trong vòng hai tuần lễ cuối tháng Tám năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đã diễn ra thành công vang dội, từ Bắc chí Nam. Chính quyền bù nhìn bị sụp đổ không kịp ngóc đầu.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngọn lửa đã hoàn thành sứ mệnh soi đường trong đêm tối. Nó đã biến đêm dài thành rạng đông. Ngọn lửa của Chủ nghĩa Mác-Lênin, được Đảng Cộng sản Việt Nam sáng tạo vận dụng, đã đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ lên vị thế làm chủ đất nước, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên Độc lập, Tự do.

Dù sau đó dân tộc còn phải trải qua hai cuộc kháng chiến vệ quốc trường kỳ và gian khổ, nhưng ngọn lửa đã cháy, thì không bao giờ tắt. Nó trở thành ngọn lửa của niềm tin, của ý chí quật cường, mãi mãi soi đường cho dân tộc Việt Nam tiến lên phía trước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn