Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH GIỮA THỜI HOA LỬA

Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt của dân tộc, biết bao người con ưu tú đã gác lại tuổi xuân, rời quê hương lên đường thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Họ ra đi với lòng yêu nước, tinh thần quả cảm và niềm tin son sắt vào ngày đất nước hòa bình, thống nhất. Trong số những người lính ấy có ông Lò Hừ Xá – người chiến sĩ biên phòng đã dành cả tuổi trẻ của mình để cống hiến nơi vùng biên cương Tổ quốc, góp phần giữ gìn sự bình yên cho nhân dân và quê hương đất nước. Ông Lò Hừ Xá sinh năm 1952, người dân tộc Hà Nhì, quê quán bản Húi To, xã Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, thuộc thế hệ thanh niên lớn lên trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh.

Điện Biên05/08/2026Đoàn Thanh niên Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh (Đoàn Thanh niên Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH GIỮA THỜI HOA LỬA

“DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH GIỮA THỜI HOA LỬA”

Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt của dân tộc, biết bao người con ưu tú đã gác lại tuổi xuân, rời quê hương lên đường thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Họ ra đi với lòng yêu nước, tinh thần quả cảm và niềm tin son sắt vào ngày đất nước hòa bình, thống nhất. Trong số những người lính ấy có ông Lò Hừ Xá – người chiến sĩ biên phòng đã dành cả tuổi trẻ của mình để cống hiến nơi vùng biên cương Tổ quốc, góp phần giữ gìn sự bình yên cho nhân dân và quê hương đất nước. Ông Lò Hừ Xá sinh năm 1952, người dân tộc Hà Nhì, quê quán bản Húi To, xã Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, thuộc thế hệ thanh niên lớn lên trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh.

Những năm cuối của thập niên 60, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn khốc liệt. Trên khắp cả nước, lớp lớp thanh niên lên đường nhập ngũ với tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Không riêng chiến trường miền Nam, vùng biên giới phía Bắc cũng là địa bàn có ý nghĩa chiến lược quan trọng cần được bảo vệ, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Năm 1969, khi vừa tròn 17 tuổi, ở độ tuổi đẹp nhất của đời người, ông Lò Hừ Xá đã tình nguyện lên đường nhập ngũ. Tạm biệt gia đình, người thân và bản làng thân yêu, ông khoác lên mình màu áo lính với niềm tự hào và trách nhiệm lớn lao đối với Tổ quốc.

Sau khi nhập ngũ, ông được phân công công tác tại Đồn Biên phòng Ma Lù Thàng (Đồn Biên phòng 33), tỉnh Lai Châu. Đây là một trong những địa bàn vùng biên giới có vị trí đặc biệt quan trọng, nơi địa hình chủ yếu là núi cao hiểm trở, giao thông đi lại vô cùng khó khăn. Những năm ấy, điều kiện sinh hoạt của cán bộ chiến sĩ nơi biên giới còn nhiều thiếu thốn. Đường sá gập ghềnh, khí hậu khắc nghiệt, mùa đông giá rét kéo dài, mùa mưa thường xảy ra sạt lở và lũ quét.

Đối với một chiến sĩ trẻ vừa rời quê hương, mọi thứ đều mới mẻ và đầy thử thách. Nhưng bằng tinh thần kiên cường của người lính Cụ Hồ, ông nhanh chóng hòa nhập với môi trường quân ngũ, tích cực học tập, rèn luyện và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Những ngày đầu công tác tại đơn vị là khoảng thời gian đầy gian nan nhưng cũng là quãng thời gian giúp ông trưởng thành hơn cả về ý chí lẫn bản lĩnh. Công việc của người chiến sĩ biên phòng không chỉ đơn thuần là canh giữ từng tấc đất nơi biên cương mà còn phải thường xuyên bám dân, bám bản, vận động quần chúng xây dựng đời sống mới, giữ gìn an ninh trật tự vùng biên giới.

Nhiều chuyến tuần tra phải kéo dài nhiều ngày xuyên rừng, vượt núi. Những con đường quanh co, những dốc núi dựng đứng, những cánh rừng âm u cùng thời tiết thất thường luôn thử thách sức chịu đựng của người lính. Có những hôm trời mưa lạnh kéo dài, quần áo ướt đẫm nhưng các chiến sĩ vẫn phải tiếp tục hành quân. Có những ngày lương thực mang theo cạn dần, mọi người phải chia nhau từng nắm cơm, từng ngụm nước để tiếp tục nhiệm vụ.

Dù vất vả là vậy nhưng ông Lò Hừ Xá chưa bao giờ lùi bước. Với tinh thần trách nhiệm cao, ông luôn là người gương mẫu trong mọi nhiệm vụ, luôn đi đầu trong các hoạt động của đơn vị. Trong quá trình công tác tại Đồn Biên phòng Ma Lù Thàng, ông đã cùng đồng đội lập được nhiều thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới và giữ gìn an ninh địa bàn.

Đến tháng 5 năm 1973, sau nhiều năm công tác tại Đồn Biên phòng Ma Lù Thàng, ông được điều động về công tác tại Đồn Biên phòng Mường Nhé (Đồn Biên phòng 409). Đây tiếp tục là một địa bàn trọng điểm, nơi có nhiều khó khăn và phức tạp về tình hình an ninh.

Không lâu sau khi nhận nhiệm vụ mới, ông tiếp tục được điều động tham gia chiến dịch tiễu phỉ tại nước bạn Lào. Đây là một chiến dịch đặc biệt quan trọng nhằm đấu tranh, truy quét các toán phỉ hoạt động chống phá, gây mất ổn định tình hình tại khu vực miền núi phía Bắc Lào. Trong chiến dịch này, cán bộ chiến sĩ phải đối mặt với vô vàn hiểm nguy. Địa bàn hoạt động chủ yếu là vùng rừng núi hiểm trở, địa hình chia cắt phức tạp. Đối tượng hoạt động thường ẩn náu sâu trong rừng, lợi dụng địa hình để chống trả và lẩn trốn.

Suốt hơn một năm tham gia chiến dịch, ông Lò Hừ Xá cùng đồng đội trải qua biết bao gian khổ, thiếu thốn. Những cuộc hành quân dài ngày xuyên rừng sâu, vượt suối, trèo đèo gần như trở thành công việc thường nhật. Có khi cả đơn vị phải thức trắng đêm để mật phục, theo dõi tình hình. Có những ngày hành quân liên tục nhiều giờ trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

Ông Lò Hừ Xá kể rằng trong thời gian tham gia Chiến dịch, ông cùng đồng đội đã phải đối mặt với những thử thách khắc nghiệt cả về chiến đấu lẫn điều kiện sinh hoạt. Các toán phỉ hoạt động rất manh động, thường lợi dụng địa hình núi cao, rừng rậm và các đường mòn hiểm trở để ẩn náu, di chuyển hoặc bất ngờ chống trả lực lượng truy quét. Có những đợt truy kích kéo dài nhiều ngày liền, đơn vị phải hành quân liên tục qua những cánh rừng rậm, vượt suối sâu, leo qua các sườn núi dựng đứng. Mỗi chiến sĩ mang theo vũ khí, đạn dược, lương thực và quân trang trên vai, nhiều khi tổng trọng lượng lên tới hàng chục kilôgam. Có những đoạn đường trơn trượt vì mưa rừng kéo dài, chỉ cần sơ suất nhỏ cũng có thể trượt chân xuống vực sâu. Nhiều lần đơn vị phải bí mật tiếp cận khu vực nghi có đối tượng hoạt động. Để tránh bị phát hiện, các chiến sĩ phải di chuyển thật chậm, giữ tuyệt đối im lặng, nhiều lúc phải men theo sườn núi hoặc lần từng bước trong rừng rậm suốt nhiều giờ đồng hồ. Có những đêm cả đơn vị thức trắng làm nhiệm vụ mật phục giữa thời tiết lạnh buốt của núi rừng Tây Bắc, người ướt sũng vì sương đêm nhưng vẫn kiên trì bám vị trí. Khó khăn lớn nhất không chỉ đến từ đối tượng truy quét mà còn đến từ điều kiện sinh hoạt vô cùng thiếu thốn. Lương thực mang theo có hạn, nhiều chuyến đi kéo dài khiến khẩu phần ăn phải chia nhỏ từng bữa. Có thời điểm anh em chiến sĩ chỉ ăn cơm nắm với muối vừng hoặc rau rừng, nước uống phải lấy từ các khe suối giữa rừng sâu. Quần áo bị ướt nhiều ngày không có điều kiện thay, chăn màn thiếu thốn, nhiều người bị sốt rét rừng nhưng vẫn cố gắng bám đơn vị thực hiện nhiệm vụ. Trong những thời điểm khó khăn ấy, tinh thần đoàn kết của đồng đội trở thành nguồn sức mạnh lớn lao. Người khỏe giúp người yếu, người còn lương thực san sẻ cho người hết phần ăn. Chính tình đồng chí, đồng đội đã giúp các chiến sĩ vượt qua những tháng ngày gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ sự bình yên nơi biên giới”.

Dù đối mặt với nhiều hiểm nguy, ông Lò Hừ Xá luôn thể hiện tinh thần dũng cảm, bình tĩnh và trách nhiệm cao trong mọi nhiệm vụ. Ông cùng đồng đội kiên trì bám địa bàn, tham gia nhiều đợt tuần tra, truy quét và giữ vững an ninh, ổn định tình hình ở các địa bàn vùng núi, vùng biên giới, góp phần củng cố mối quan hệ đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa hai nước Việt Nam – Lào.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong Chiến dịch Tiễu phỉ tại Lào, ông trở về đơn vị cũ tiếp tục công tác. Những năm tháng trong quân ngũ đã rèn luyện cho ông bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên cường và tinh thần trách nhiệm cao. Trong suốt quá trình tham gia kháng chiến và công tác, ông đã lập được nhiều chiến công, thành tích đáng ghi nhận, góp phần cùng đồng đội hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn sự bình yên nơi biên cương. Sau nhiều năm cống hiến trong quân đội, năm 1974 ông được phục viên trở về địa phương. Rời quân ngũ nhưng ông không rời bỏ tinh thần người lính. Trở về cuộc sống đời thường, ông tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tích cực tham gia các phong trào tại địa phương. Nhờ quá trình rèn luyện trong quân đội cùng uy tín của bản thân, ông được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao trọng trách đảm nhiệm chức vụ xã đội trưởng trong nhiều năm. Đây vừa là niềm vinh dự nhưng cũng là trách nhiệm lớn lao đối với ông.

Trên cương vị xã đội trưởng, ông luôn tận tâm với công việc, hết lòng phục vụ nhân dân. Ông tích cực tham gia xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, tổ chức huấn luyện, giáo dục tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ, góp phần giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương. Dù ở chiến trường hay khi trở về cuộc sống đời thường, ông Lò Hừ Xá luôn thể hiện phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng: trung thành với Đảng, tận tụy với nhân dân, hết lòng vì nhiệm vụ được giao.

Thời gian trôi qua, những năm tháng chiến tranh đã lùi xa, nhưng ký ức về một thời hoa lửa vẫn luôn còn mãi trong tâm trí của ông và những người từng đi qua cuộc chiến. Đó là những năm tháng đầy gian khổ nhưng cũng vô cùng vẻ vang; là thời tuổi trẻ được sống, được cống hiến và chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Câu chuyện về ông Lò Hừ Xá không chỉ là câu chuyện về một người lính biên phòng mà còn là hình ảnh tiêu biểu của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam đã dành trọn tuổi xuân cho đất nước. Họ đã sống, chiến đấu và cống hiến bằng tất cả lòng yêu nước và trách nhiệm thiêng liêng đối với Tổ quốc.

Đó chính là ngọn lửa truyền thống quý báu để các thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục học tập, noi theo và phát huy trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời kỳ mới.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn