Cựu Thanh niên xung phong

DẤU CHÂN NGƯỜI THANH NIÊN XUNG PHONG (1)

Có những con người đi qua chiến tranh bằng cả tuổi trẻ, bằng lòng yêu nước cháy bỏng và niềm tin chưa bao giờ tắt vào ngày mai hòa bình. Bác Trần Văn Ký – người cựu Thanh niên xung phong quê ở xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long – là một trong những con người như thế.

Vĩnh Long09/06/2026BCH LCĐ Khoa Dược - Trường Đại học Cửu Long (Đoàn Trường Đại học Cửu Long)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nhắc về quãng đời tuổi trẻ của mình, bác thường chỉ cười hiền rồi lặng lẽ nhìn xa xăm. Nhưng phía sau ánh mắt ấy là cả một thời máu lửa mà bác đã sống, chiến đấu và cống hiến không chút tiếc nuối.

Năm ấy, khi đất nước còn chìm trong khói bom chiến tranh, tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đã thôi thúc chàng thanh niên Trần Văn Ký vừa tròn hai mươi tám tuổi rời xa quê hương, tạm biệt mái nhà đơn sơ cùng cha mẹ già để lên đường tham gia lực lượng Thanh niên xung phong.

Ngày khoác lên mình màu áo xanh thanh niên, bác chỉ mang theo vài bộ quần áo cũ và một lời hứa giản dị:
“Còn sức là còn góp cho đất nước.”

Mang tinh thần “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, bác cùng đồng đội bước vào những tháng ngày đầy gian nan nơi chiến trường. Công việc của họ không chỉ là mở đường, vận chuyển lương thực, dựng căn cứ hay giữ liên lạc giữa các đơn vị chiến đấu, mà còn là đối mặt với hiểm nguy từng giờ từng phút.

Năm 1978, Tiểu đoàn 1 mang tên Nguyễn Văn Tiên được thành lập, sau này đổi tên thành Tiểu đoàn D1. Trong đội hình ấy có người thanh niên Trần Văn Ký – một trong những thanh niên tiên phong của quê hương Phú Quới tình nguyện lên đường phục vụ kháng chiến.

Những năm đầu hoạt động, bác được điều động về vùng Thường Phước, tỉnh Đồng Tháp – nơi nổi tiếng khắc nghiệt bởi nắng gắt, mưa dầm và chiến sự liên miên. Ban ngày, bác cùng đồng đội mở đường, đắp đê, tải hàng tiếp tế cho bộ đội. Ban đêm, họ thay phiên canh gác, giữ an toàn cho đơn vị giữa tiếng bom đạn vọng về từ xa.

Bác kể rằng có những ngày hành quân xuyên rừng, quần áo ướt sũng vì mưa, đôi chân phồng rộp nhưng không ai dám than mệt. Giữa chiến tranh, điều giúp họ đứng vững chính là tình đồng đội và niềm tin vào ngày đất nước thống nhất.

“Có lúc đang làm đường thì máy bay địch quần thảo phía trên đầu,” bác nhớ lại, “mọi người nằm rạp xuống đất chờ bom qua rồi lại đứng dậy làm tiếp.”

Chiến tranh không chỉ thử thách lòng can đảm mà còn rèn giũa ý chí của những người thanh niên trẻ tuổi. Có những đêm giữa rừng sâu, muỗi dày đặc, sốt rét hành hạ đến kiệt sức nhưng không ai bỏ vị trí. Họ động viên nhau bằng những câu nói giản dị:
“Ráng thêm chút nữa thôi, đất nước rồi sẽ hòa bình.”

Đến tháng 7 năm 1979, bác Trần Văn Ký tiếp tục được điều động sang chiến trường Campuchia, tham gia chiến dịch giải phóng tỉnh Prey Veng khỏi họa diệt chủng.

Nơi đất bạn xa xôi, cuộc sống còn gian khổ hơn gấp nhiều lần. Thiếu lương thực, thiếu thuốc men, bệnh tật hoành hành giữa rừng sâu nước độc. Nhưng bác và đồng đội vẫn kiên cường bám trụ, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả.

Chính tại chiến trường ấy, bác đã chứng kiến nhiều đồng đội ngã xuống.

Có những người hôm trước còn cùng nhau ăn vội bữa cơm giữa rừng, hôm sau đã mãi mãi nằm lại nơi đất khách.

Nhắc đến điều đó, giọng bác chùng xuống:
“Nhiều người hy sinh lúc tuổi đời còn rất trẻ… đến giờ bác vẫn không quên được.”

Tết năm 1979, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bác trở về quê hương Phú Quới trong niềm vui đoàn tụ. Nhưng hòa bình khi ấy vẫn còn bộn bề khó khăn. Không nghỉ ngơi, bác tiếp tục tham gia công tác dân vận, hỗ trợ người dân khôi phục cuộc sống sau chiến tranh.

Sau đó, bác được điều động về Trà Vinh để cùng anh em khai hoang, phục hóa ruộng đồng, bảo vệ rừng và giúp người dân ổn định cuộc sống.

Bác bảo:
“Ngày còn chiến tranh thì cống hiến bằng tuổi trẻ. Hòa bình rồi thì tiếp tục cống hiến bằng sức lao động.”

Năm 1981, khi đơn vị giải thể, bác trở về quê hương Vĩnh Long, bắt đầu cuộc sống đời thường. Dù không còn khoác áo lính, tinh thần Thanh niên xung phong năm nào vẫn chưa bao giờ tắt trong bác.

Bác tích cực tham gia các hoạt động địa phương, tăng gia sản xuất và luôn giữ nghĩa tình với đồng đội cũ.

Khi Nghị quyết 62 được triển khai, bác cùng nhiều cựu Thanh niên xung phong phối hợp tìm kiếm, quy tập hài cốt đồng đội đã hy sinh năm xưa.

Mỗi lần nhắc về những người đã nằm xuống, bác đều lặng người:
“Họ hy sinh để mình có được cuộc sống hôm nay…”

Giờ đây, trên địa bàn xã Phú Quới chỉ còn khoảng mười bảy đến mười tám người đồng đội cũ của bác còn sống. Dù tuổi đã cao, họ vẫn thường tìm gặp nhau để ôn lại ký ức của một thời tuổi trẻ không thể nào quên.

Dừng lại thật lâu, bác nghẹn ngào nói:
“Tuổi trẻ của chúng tôi đã hiến dâng cho Tổ quốc mà không hề hối tiếc. Giờ chỉ mong con cháu sống tử tế, học hành thành tài và biết giữ gìn truyền thống quê hương, đất nước.”

Rồi bác khẽ thở dài:
“Tôi chỉ mong một ngày nào đó có thể tập hợp lại hết anh em đã từng cùng chiến đấu năm xưa…”

Ước mong ấy giản dị nhưng chất chứa biết bao nghĩa tình của một thế hệ đã đi qua chiến tranh bằng tất cả lòng yêu nước và sự hy sinh thầm lặng.

Cuộc trò chuyện với bác Trần Văn Ký giúp chúng tôi hiểu rằng hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có. Đó là thành quả được đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả tuổi xuân của biết bao con người bình dị.

Bác Trần Văn Ký – người cựu Thanh niên xung phong giàu nghị lực và nghĩa tình – chính là một ngọn lửa đẹp của thế hệ đi trước, truyền cảm hứng cho tuổi trẻ hôm nay sống có lý tưởng, có trách nhiệm và biết cống hiến cho quê hương, Tổ quốc.

Chúng tôi xin gửi đến bác lòng biết ơn sâu sắc nhất.

Và xin hứa sẽ tiếp tục học tập, rèn luyện, sống xứng đáng với những hy sinh lớn lao mà thế hệ cha anh đã dành cho đất nước Việt Nam hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn