Khác

Dấu chân trên cát

Hồi ký “Dấu chân trên cát” là những kỷ niệm của tôi trên một quãng đời, từ tuổi thơ đến khi trở thành tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, với hơn 40 năm (10.1962 -3.2010) tham gia kháng chiến, từ khi tham gia Quân giải phóng miền Nam cho đến ngày nay. Trong một dung lượng mỏng manh, hữu hạn quyển sách này chưa thể nói hết tâm tư tình cảm của tôi với Đảng, với quân đội, nơi tôi đã rèn luyện bản lĩnh của người chiến sĩ giải phóng từ trong tăm tối biết “rũ bùn đứng dậy” cùng số phận của quê hươn

Lai Châu02/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Dòng sông trên cát

Tôi sinh ra bên dòng lộ Cảnh Giang, người dân quê tôi quen gọi là sông Cổ Cò hay Đế Võng. Dòng sông từng là con đường thủy nội địa đóng vai trò huyết mạch giao thương giữa Cảng thị Hội An với Cửa Hàn - Đà Nẵng từ nhiều thế kỷ trước. Nhiều tài liệu cũ mô tả rằng, trên con sông này luôn tấp nập tàu bè ngược xuôi của thương gia các nước đến trao đổi, mua bán hàng hóa với xứ Đàng Trong của Đại Việt. Dọc hai bên bờ sông này mọc lên nhiều thương điếm. Trong đó có chợ cầu của Điện Dương từng là trung tâm buôn bán nổi tiếng của huyện Điện Bàn, lưu truyền câu hát:

“Bồng con mà bỏ vô nôi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Bất Nhị, mua trầu Hội An...”

Dọc theo sông Cổ Cò là những ngôi làng, nỗng cát. Dòng sông như chảy vào nguồn mạch của làng, chảy trong tiềm thức của người dân quê tôi, ẩn mình trong cát bao biến thiên của thế thái nhân tình, bao dời đổi của cát bụi thời gian và những thăng trầm lịch sử.

Dấu ấn tiến nhân

Ngược thời gian trở về nguồn cội, qua lời kể của các bậc cao niên về công ơn tiền nhân trong buổi đầu khai hoang lập nghiệp thì những cư dân đầu tiên từ phía Bắc vào sinh sống dọc vùng hạ lưu sông Cổ Cò - Đế Võng. Một đoạn sông có nhiều cá sấu nên đặt tên là sông Hà Sấu. Năm tháng trôi qua cùng với việc quy dân lập điền, dân cư ngày thêm đông đúc, các làng lần lượt hình thành. Làng thường lấy tên có chữ Hà (sông): Hà Mòi là làng chuyên đánh bắt cá mòi trên biển; Hà Tôm là làng chuyên đánh bắt tôm trên sông, về sau Hà Mòi đổi thành Hà Quảng, Hà Tôm đổi thành Hà My, sông Hà Sấu có tên mới là Đế Võng. Làng Hà Quảng cùng với các làng ven sông gồm Hà Lộc, Gia Lộc, Hà My, Hà Bản hợp thành Ngũ Xã.

Ngày ấy, Ngũ Xã quê tôi không chỉ có cảnh đẹp của dòng sông và dải cát uốn lượn cùng những lũy tre xanh bao bọc mà còn có những cánh rừng Hà Gia, Hà Quảng đến Hà My. Rừng có nhiều cây cổ thụ như Mít nài, Trẩu, Chỏi, Cốc... trên quãng dài hơn chục cây số của dòng sông, trải qua thăng trầm dâu bể, nhiều đoạn bị bồi lấp hình tháp, những vùng đầm nhiều dừa nước,..., dưng, lát (cói)... cửa rừng ngập mặn Hà My và vô số những hoa sen, hoa súng, lục bình ở Hà Gia, Gia Lộc... Sông và những vùng đầm lầy nhiều cây cỏ là thế giới trù phú cá, tôm, cua quyến rũ vô số chim cồng cộc, ngỗng trời, trích, cò... cùng những đàn rái cá tinh ranh ngày đêm lặn ngụp săn bắt cá tôm trong thiên nhiên hoang sơ. Đó cũng là khi dòng sông không còn là con đường thủy tấp nập ghe thuyền giao thương giữa cửa Đại - Hội An với Cửa Hàn - Đà Nẵng.

Sau năm 1930, khi cây phi lao (dương liễu) được người Pháp du nhập vào trồng ở vùng cát duyên hải miền Trung thì người dân quê tôi cũng đã được nhanh chóng học hỏi cách ươm trồng. Rồi từ bờ giậu quanh nhà lan ra bờ ao, đến những cồn cát, trảng cát, chỉ sau gần một thập niên, cây phi lao đã khép tán thành rừng. Dọc theo bờ biển dài hơn bảy cây số, xanh biếc rừng phi lao, quanh năm rì rào đón gió, chắn cát lấp, cát bay cung cấp nguồn lá khô vàng ươm cho người dân đun nấu, thân gỗ dành để làm củi chẻ, vỏ ngâm để nhuộm lưới, mành và rao bán khắp các chợ phố thị Hội An, Đà Nẵng...

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Dấu chân trên cát - thiếu tướng Trần Minh Hùng« Trả lời #2 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2022, 08:10:13 am »
Xóm nhỏ nhà tôi ở đó...

Còn nhớ, cái xóm nhỏ Bắc Hải của làng Hà Quảng quê tôi vào những thập niên 40-60 của thế kỷ XX, cũng như bao làng chài ven biến khác hầu hết cư dân sống bằng nghề biển ngang. Có lẽ các thế hệ tiền nhân khi đến khai cơ lập nghiệp ở đây đã trải qua những biến cố và tình huống khó khăn: Hoặc vì không có những ưu thế chính trị nên phải tránh xa chỗ quan quyền, nơi tấp nập phồn vinh. Hoặc vì nghèo túng mà phải chấp nhận gian nguy để tìm kế mưu sinh nơi vùng cát heo hút đầu sóng ngọn gió này. Chỉ có biển và cát. Biển vỗ rì rào quanh năm và cát bao bọc quanh nhà, làng xóm. Vào mùa nồm nam nắng rát, những nỗng cát như rộng dài thêm, khắp nhà như sống cùng với những cụm hoa lông chông đuổi bắt nhau không mỏi trong luồn nồm nam qua cát. Đây đó hiện ra những lối mòn qua cát. Từng đoạn ngắn, vào mỗi buổi sáng, mỗi nhà thường góp đôi gánh nước tưới cát tạo ra các điểm nho nhỏ cho người đi đường nghỉ chân tạm bớt nóng lúc xế trưa.

Biển một bên, sông một bên, giữa là cát dài và hẹp, thấp thoáng những ngôi nhà mái tranh yên ả, khuất sau rặng dương liễu, quanh năm rì rào sóng gió biển đông. Hà Quảng một thời đã cuốn hút khách phương xa với lời thơ:

Hà Quảng thông xanh mấy dặm trường
Bao ngày đo đạc luyến tình thương
Lênh đênh Bắc Hải thuyền ngư phủ
Lác đác Tây Đình xóm thiện lương...


Vẫn còn đó, thế hệ cha ông với những tháng ngày cơ cực, khi biển vẫn muôn đời hào phóng nhưng cũng vô cùng dữ dội, luôn giấu bao bí ẩn đối với những ngư dân sống trên một vùng làng cá biển ngang mà phương tiện đánh bắt là những chiếc thuyền nan dùng buồm cùng những tay chèo, nên không thể ra khơi đánh bắt dài ngày. Thuở ấy, mùa nắng với những ngày trời yên biển lặng, ngư dân quê tôi chủ yếu đánh bắt ven bờ bằng các nghề lưới rùng, lưới quét, mành chà, câu... Ngày ấy, khi nghe tiếng gà gáy sáng “chở nhứt”, cha anh tôi và những người đàn ông lực lưỡng của làng chài vội vã thức dậy, uống vội bát nước chè đen đậm đặc, mang theo những phần ăn cơm độn nhiều khoai, sắn, khoác vội lên người chiếc áo vá sờn vai mặn mồ hôi biển cùng đôi chân trần kéo nhau ra bến, hì hục khiêng đẩy những chiếc thuyền nan từ trên bãi cát xuống nước để ra khơi. Chiều xuống trên những chiếc thuyền đầy cá lại đón gió nồm quay về bến, cũng là lúc những người phụ nữ từ các làng chài đã đợi sẵn vội ùa xuống mép sóng, tranh nhau bưng bê những thúng cá tươi, mặc cả, trả giá ồn ã. Xong họ vội vàng quang gánh chạy bộ đưa đến các chợ Hội An, Vĩnh Điện vào các ngõ xóm, đường quê để bán hoặc đổi lấy gạo sắn khoai... Còn với lũ trẻ chúng tôi, sau niềm vui khấp khởi vừa nhặt được nhiều cá tôm vụn sót lại trong thuyền đem đổi lấy những trái ổi chín vàng ruột đỏ mọng, những trái thị thơm lừng... giờ là lúc cả bọn lại nô đùa, vẫy vùng với sóng rồi kéo nhau đến đầu làng mong ngóng mẹ đi chợ về để có quà là những lọn mía, cục đường đen, viên kẹo ú ngọt ngào... Vào những ngày biển động, thường từ cuối thu sang đông, sóng to gió lớn làng biển sông thắc thảm trong cảnh “chim trời cá nước” bữa đói bữa no. Hơi thở của cát, vì thế cũng nhấp nhỏm không yên với giọng ru hời:

“Lấy chồng nghề ruộng em theo
Có chồng nghề biển hồn treo cột buồm...”.

Cuộc sống cơ cực nhọc nhằn nhưng yên bình ấy thật ngắn ngủi. Chiến tranh ập đến, kéo dài mỗi ngày thêm ác liệt. Các khu rừng nguyên sinh ở Hà Gia, Hà Quảng, Hà My bị chặt phá trụi vì kẻ thù lo sợ lực lượng kháng chiến có chỗ ẩn nấp. Tiếp đến rừng dương liễu ven biển cũng chung số phận. Đạn bom giặc cày xới làng thành những giếng cát đen, hun hút bụi mù, người ở lại bám trụ, người đi ngập chìm thêm dâu bể, trôi dạt như cát bụi... Có những tháng năm dài quê hương Điện Dương “trắng đất, trắng dân”. Cán bộ du kích bám trụ phải sống chui, sống lủi dưới lục bình, dừa nước, cỏ lác, cỏ lùng... trên các sông đầm... Thư nhà tôi mỏi mắt chờ trông. Cho đến ngày đầu giải phóng năm 1975 có nhiều người trở về làng đã không còn nhận ra lối cũ vườn xưa...

Những chuyện u hoài ấy còn không? Với những người Điện Dương phải xa quê nhiều năm vì biến động lịch sử chưa một lần trở lại chắc khó hình dung những đổi thay với quê xứ. Con sông Cổ Cò chảy qua làng giờ đây không còn hình dáng cũ. Cuộc mưu sinh vẫn chưa hết nhọc nhằn với những người dân quê cát ngày một đông, nhưng nhờ cần cù chịu khó một nắng hai sương lao động, xây dựng cuộc sống mới, sau mỗi mùa thu hoạch người dân quê tôi càng có thêm kinh nghiệm sản xuất để làm cho đồng đất, sông hồ, biển cả có thêm sản phẩm nuôi sống con người. Với những giống cây trồng, vật nuôi mới và ánh sáng điện đã tỏa về các xóm thôn, góp phần cho đời sống ngày càng thay da đổi thịt. Trên đất cát thổ, đất vườn, mùa nào cũng có rau quả. Nhiều nhất vẫn là lúc cuối đông sang xuân nào cà chua, khổ qua (mướp đắng), rau, hành, cải... từ vùng cát này tỏa đi các chợ Hội An, Vĩnh Điện, Điện Ngọc, Chợ Hàn...

... Vùng đất sình lầy ngập mặn hoang hóa lác đác dừa nước cằn cỗi vì thiếu phù sa đã được cải tạo thành nhiều hồ nuôi tôm, cá... hiệu quả. Nghề biển với những chiếc thuyền nan dùng buồm đã đi vào quá khứ. Nhiều ngư dân đã đóng tàu mã lực lớn để vươn khơi xa, gắn với nuôi trồng thủy sản cùng với những cơ sở sản xuất, gia công chế biến hải sản xuất khẩu, thu hút hàng ngàn chị em vùng biển...

Nhớ lại ngày vừa giải phóng, tưng bừng với khí thế mùa xuân đại thắng, hàng ngàn người dân quê tôi từ các khu dồn trại tập trung gồng gánh, bồng bế con cái hăm hở trở về ước muốn cất lại nhà trên mảnh đất xưa. Nhưng với tầm nhìn xa trông rộng về một ngày “đất chật người đông”, ngay từ đầu, Điện Dương đã quyết xây dựng khu dân cư mới trên vùng cồn cát bỏng Sa Khê, Tân Khai, Hà Quảng, Hà My nhường lại những khu đất mỡ màu hơn để gieo trồng cây trái. Quanh lũy làng, dương liễu chắn gió, chắn cát ngày một nhiều thêm. Những cuộc đuổi bắt của gió Bắc mùa đông và gió Nam mùa hạ cuốn theo hàng tỷ tỷ bụi cát cùng những chùm lông chông chỉ còn trong ký ức. Những đứa trẻ bây giờ lớn lên không còn bị bệnh toét mắt vì cát. Những ngôi nhà xây mái ngói, mái tôn thấp thoáng trong vườn xanh cây xoài, cây ổi, mãng cầu, đào lộn hột... nối liền nhau bằng những tuyến đường quê được thảm nhựa phẳng lỳ rộng thoáng và bằng đường bê tông ngang dọc, thuận tiện cho việc đi lại, giao thương. Sát cạnh cứ điểm Nam Hàn xưa là bãi tắm Hà My với bờ cát trắng, nước trong xanh, trông ra xa là bán đảo Sơn Trà, Cù Lao Chàm mờ sương khói mây trời thơ mộng. Toàn tuyến bờ biển hơn bảy cây số đã có nhiều khách sạn Nam Hải, Resort.... cao cấp dần mọc lên, đầu tư hạ tầng du lịch với số vốn hàng chục triệu đô la để chuẩn bị đón khách trong và ngoài nước đến tắm biển, du lịch, nghỉ ngơi...

Điện Dương quê tôi đã và đang rạng lên những chồi non lộc biếc. Tuổi của cát ngàn đời, tuổi của thế hệ chúng tôi - tóc đã hoa râm, rồi sẽ về... chợt tôi nhớ đến mẹ, cha và những người thân yêu nhất không còn, họ đã hóa thân vào lòng cát quê nhà, vào nguồn mạch dòng sông trong cát ngàn đời thì thầm những câu chuyện với thời gian...

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Dấu chân trên cát - thiếu tướng Trần Minh Hùng« Trả lời #3 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2022, 08:13:02 am »
Thấm đẫm truyền thống văn hóa, khí chất anh hùng

Dải cát dài và hẹp Điện Dương quê tôi chừng hơn 1.000 ha, dựa lưng vào những nỗng cát với những tên cồn: Cồn Hĩnh, Cồn Chờ, Cồn Chất, Cồn Đó, Cồn Thương...

Hình thế đất mặt quay vào sông, mặt hướng ra Biển Đông trên tuyến hành lang ven biển nối Đà Nẵng - Hội An. Trải qua nhiều thế kỷ, từ cuộc bình Chiêm của vua Lê Thánh Tông (1471), những tộc họ ngoài Bắc quê ở Thanh, Nghệ Tĩnh vào đây sinh cơ lập nghiệp “chân đồng, chân biển”. Và cuộc mưu sinh nhọc nhằn trên một vùng đất cát bạc màu, chua mặn, thiên tai bão lũ triền miên ấy đã trải qua nhiều biến cố lịch sử nhưng những tên của Ngũ Xã (Hà Quảng, Hà Lộc, Hà Gia, Hà Bản, Hà My) vẫn mãi in sâu trong tâm thức và tình cảm của bao thế hệ người dân quê tôi. Ý thức nguồn cội đó đã hun đúc các thế hệ của dân Điện Dương luôn gắn bó với quê hương, xây đắp nên truyền thông lao động cần cù, đoàn kết chiến đấu kiên cường với thiên tai, địch hoạ vượt lên những hoàn cảnh khắc nghiệt éo le...

Lam lũ làm ăn nhưng không cam chịu cuộc sống nghèo khó “Tối ăn khoai đi ngủ, sáng ăn củ đi làm” người dân Điện Dương đã biết chăm lo việc học hành của con cái. Tiêu biểu về tài trí và ý chí nghị lực vươn lên trên con đường học hành khoa cử được nhắc đến nhiều là cử nhân Lê Tấn Toán, sinh năm Đinh Dậu (1837) tại làng Hà Lộc. Năm 1861, khoa thi Tân Dậu, Tự Đức thứ 14, cả ba anh em ruột cụ Toán cùng đi thi thì hai người đỗ tú tài, một cử nhân. Không ra làm quan, cử nhân Lê Tấn Toán về làng mở trường dạy học. Một số tài liệu cho biết, trong nhiều “học tràng” hay “lò học” của Quảng Nam ngày ấy, “học tràng” của cụ Toán ở Hà Lộc nổi tiếng bởi chất lượng giảng dạy cùng đức độ của người thầy nên sĩ tử từ Quảng Ngãi, Bình Định cũng tìm đến học rất đông. Nhiều học trò sau này đỗ đạt cao trong các hội thi, trở thành danh nhân đất nước như Nguyễn Duy Hiệu đỗ Phó bảng được ban tước Hồng lô Tự Khanh, sau thành hội chủ Nghĩa hội Quảng Nam, vung thanh gươm hào kiệt dấy lên phong trào Cần Vương chống Pháp khắp các tỉnh Nam - Ngãi, Bình - Phú. Hay như chiến sĩ yêu nước Châu Thượng Văn cũng từng là môn sinh học tràng của cụ Toán. Những người học trò ưu tú đã ảnh hưởng bởi tư tưởng trọng nghĩa khinh tài của thầy, luôn đặt lợi ích của nhân quần và Tố quốc lên trên mạng sống của mình. Và thật bi tráng khi cử nhân Lê Tấn Toán - người thầy khả kính của chí sĩ Nguyễn Duy Hiệu, bị triều đình phong kiến tay sai ghép tội vì dạy học trò “khởi ngụy” và làm quân sư cho “ngụy hội”, ông đã chọn chén thuốc độc để vong thân giữ tròn tiết tháo. Chí khí cương trực của cử nhân Lê Tấn Toán cùng hy sinh oanh liệt của những học trò đã trở thành câu chuyện lịch sử hun đúc tình yêu nước và lòng tự hào của nhiều thế hệ người Điện Dương.

Noi gương thầy Toán, sau này Điện Dương có nhiều người học hành đỗ đạt đã trở về làng mở trường dạy học, vừa dạy chữ Hán vừa dạy chữ Quốc ngữ như Đinh Triết (Hà Quảng) Lê Công Diễn, Nguyễn Ứng (Gia Lộc), tú tài Lê Tấn Tiễn, Cù Duy Tá, Lê Tấn Đoái (Hà Lộc), Văn Hiến, Trần Mô (Hà My)... Thời chống Pháp, các thầy: Văn Dương, Văn Huệ, Văn Huyền (Hà My) cùng góp phần vào cuộc “khai dân trí, chấn dân khí” do các cụ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng... phát động. Từ đó một lớp tri thức hình thành trên các xã vùng cát Điện Bàn trong đó có Điện Dương nung nấu bầu nhiệt huyết yêu nước, căm thù xâm lược, sẵn sàng lên đường tham gia đánh giặc. Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công, truyền thống yêu quê hương đất nước của nhân dân Điện Dương càng được phát huy cao độ, trở thành sức mạnh chiến thắng quân thù. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, Điện Dương là vùng có phong trào du kích chiến tranh phát triển rất mạnh của huyện Điện Bàn. Nơi đây còn có một mắt xích quan trọng của con đường giao lưu huyết mạch giữa vùng tạm chiến và vùng tự do của tỉnh Quảng Nam từ Kiến Tân (Duy Xuyên) qua Thanh Hiệp, cầu Cống (Hội An) lên Hà My, chợ Cầu (Điện Ngọc),... rồi tỏa ra các vùng. Nhân dân Điện Dương không những lập nên những chiến công vang dội trên quê hương mình mà còn có những đóng góp lớn cho phong trào cách mạng của huyện Điện Bàn, thị xã Hội An, Quận 3 - Đà Nẵng cả trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Có thể nói, trong dòng chảy không ngừng của lịch sử dân tộc, Điện Dương quê tôi thời nào cũng có những con người yêu nước kiên trung mà công lao sự nghiệp, nhân cách của họ đã trở thành tấm gương sáng cho lớp con cháu noi theo.

Đó là gương chiến đấu dũng cảm và hy sinh oanh liệt của lãnh binh Lê Ngọc Sỹ và cụ Đàm Thân dưới cờ nghĩa hội của Nguyễn Duy Hiệu.

Đó là hình ảnh bất khuất, kiên trung của những đảng viên cộng sản như: anh hùng liệt sĩ Lê Ngọc Giá (hay ông Diện) mà cuộc chiến đấu chống Mỹ - Diệm đã trở thành huyền thoại...

Đó là người cộng sản Nguyễn Triết biến lao tù của giặc thành nơi trui rèn ý chí, là mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Bưng, cơ sở trung kiên che giấu cho nhiều cán bộ Huyện ủy, Tỉnh ủy hoạt động cách mạng, là người anh hùng Nguyễn Cây, vinh dự được Bác Hồ đặt tên Hồ Văn Biển...

Và còn biết bao hình ảnh của những người con yêu nước và cách mạng đã dựng nên thành đồng lũy thép chống giặc ngoại xâm trên quê hương tôi. Chỉ tính riêng hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, quê tôi đã có hơn 1.240 liệt sĩ (bình quân trong chiến tranh cứ 6 người có 1 liệt sĩ, 2 gia đình có 7 liệt sĩ, 1 gia đình có 6 liệt sĩ, 2 gia đình có 5 liệt sĩ và 63 gia đình có 3-4 liệt sĩ). Trong 2.020 hộ gia đình, toàn xã có 800 hộ là thân nhân gia đình liệt sĩ, 1.470 gia đình có công cách mạng, hơn 150 bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Với thành tích và những chiến công oanh liệt trong kháng chiến, Điện Dương đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào tháng 12 năm 1988(1). Quê hương với những hình ảnh đau thương mà anh dũng đã nuôi dưỡng cho thế hệ chúng tôi, bồi đắp cho hành trang đi vào cuộc đời binh nghiệp sau này sự tự tin và lòng dũng cảm.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn