"Đầu hàng chú Chơn đi con"
THỜI HOA LỬA – NGUYỄN CHƠN, NGƯỜI ĐI QUA NHỮNG TRẬN ĐÁNH
Có những vị tướng khi nhắc đến, người ta nhớ trước hết đến những tấm bản đồ.
Những đường tiến quân.
Những mũi đột phá.
Những trận đánh được ghi bằng những cái tên trên sách sử.
Nhưng nếu được ngồi xuống nghe chuyện về Nguyễn Chơn, tôi nghĩ câu chuyện sẽ không bắt đầu từ quân hàm Thượng tướng.
Nó phải bắt đầu từ một người lính trẻ.
Một người con của Quảng Nam, nhập ngũ tháng 2 năm 1946, khi đất nước vừa bước vào những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ. Từ một chiến sĩ Tiểu đoàn 19, ông trưởng thành từng bước trong chiến đấu và được kết nạp Đảng năm 1949.
Những năm đầu đời binh nghiệp của ông gắn với chiến trường Khu 5 và Trị - Thiên.
Ở đó, người lính Nguyễn Chơn bắt đầu học một thứ mà trường lớp không thể dạy hết:
Cách đánh một trận chiến bằng cái đầu, chứ không chỉ bằng lòng dũng cảm.
Trong kháng chiến chống Pháp, ông từng nhiều lần trực tiếp lao vào trận địa, xông thẳng vào đội hình đối phương.
Nhưng điều khiến người ta nhớ về Nguyễn Chơn không phải chỉ là sự gan dạ.
Các tư liệu quân sử đánh giá những trận đánh do ông chỉ huy thường có đặc điểm rất rõ: đánh nhanh, đánh mạnh, ít thương vong. Đơn vị do ông chỉ huy từng tiêu diệt tập đoàn phòng ngự phía bắc Kon Tum và xóa sổ một đơn vị quân Pháp ở khu vực đèo An Khê.
Một người chỉ huy giỏi không phải là người đưa bộ đội vào chỗ chết để đổi lấy chiến thắng.
Nguyễn Chơn hiểu điều đó.
Nếu có thể đánh một trận trong thời gian ngắn hơn, phải tìm cách đánh nhanh.
Nếu có thể tiêu diệt mục tiêu bằng cách ít tổn thất hơn, phải tìm cách ít tổn thất.
Bởi phía sau mỗi người lính không chỉ có một khẩu súng.
Phía sau họ còn có một gia đình.
Một người mẹ.
Một người vợ.
Một đứa con.
Và một cuộc đời.
Sau Hiệp định Genève, Nguyễn Chơn tập kết ra Bắc, tiếp tục học tập và rèn luyện.
Nhưng chiến tranh chưa thực sự kết thúc đối với thế hệ của ông.
Rồi ông lại trở về chiến trường.
Lần này là cuộc chiến khốc liệt hơn.
Những năm tháng chống Mỹ đưa Nguyễn Chơn trưởng thành từ người chỉ huy cấp nhỏ thành một cán bộ chỉ huy cấp cao.
Năm 1968, ông chỉ huy Trung đoàn trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân.
Đó là một thời điểm mà chiến trường miền Nam rung chuyển.
Nhưng với người chỉ huy, mỗi trận đánh không chỉ nằm trên bản đồ.
Đằng sau một mũi tiến công là hàng nghìn người lính.
Mỗi quyết định đều phải tính đến địa hình, hỏa lực, thời cơ, sức chịu đựng của bộ đội và phản ứng của đối phương.
Nguyễn Chơn trưởng thành chính trong những bài toán khắc nghiệt ấy.
Đến năm 1971, ông chỉ huy Sư đoàn 2 tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.
Đó là một trong những chiến dịch lớn và phức tạp của cuộc chiến.
Đường hành quân dài.
Địa hình hiểm trở.
Đối phương có lực lượng cơ động và hỏa lực mạnh.
Trong những trận đánh như vậy, một người chỉ huy không thể chỉ có lòng gan dạ.
Phải biết nhìn toàn cục.
Biết lúc nào đánh.
Biết lúc nào giữ.
Biết lúc nào nghi binh.
Và biết lúc nào phải thay đổi cách đánh.
Đó là thứ mà Nguyễn Chơn đã tích lũy qua hàng chục năm trận mạc.
Rồi đến năm 1975.
Chiến tranh bước vào những ngày cuối cùng.
Nguyễn Chơn lúc ấy chỉ huy Sư đoàn 2.
Đơn vị tiến công Tam Kỳ, rồi tham gia giải phóng Đà Nẵng.
Có lẽ nếu nhìn lại cả cuộc đời quân ngũ của Nguyễn Chơn, năm 1975 là một trong những đoạn ký ức đặc biệt nhất.
Bởi ông đã đi từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, qua những năm tháng đánh Mỹ, rồi cuối cùng đứng trong đội hình của những người tiến về giải phóng những thành phố lớn miền Trung.
Một người lính trẻ năm 1946 đã trở thành một vị chỉ huy vào mùa Xuân năm 1975.
Gần ba mươi năm.
Một đời người.
Một cuộc chiến.
Và biết bao người đồng đội đã không thể đi đến ngày ấy.
Nhưng có một điều tôi nghĩ rất đáng nói về Nguyễn Chơn.
Ông không chỉ nổi bật bởi những trận đánh lớn.
Ông còn được nhắc đến như một người chỉ huy rất chú trọng nghệ thuật quân sự.
Người ta có thể học cách sử dụng một loại vũ khí.
Có thể học đội hình.
Có thể học những nguyên tắc tác chiến.
Nhưng để trở thành một người chỉ huy thực sự, cần có khả năng nhìn thấy thứ mà người khác chưa nhìn thấy.
Một khoảng trống trong đội hình đối phương.
Một thời điểm mà địch chủ quan.
Một con đường tưởng không thể đi nhưng lại có thể trở thành hướng tiến công.
Một cách đánh khiến đối phương không kịp trở tay.
Nguyễn Chơn trưởng thành trong chính những điều ấy.
Và có lẽ vì thế mà người ta gọi ông là một vị tướng dạn dày trận mạc.
Sau năm 1975, chiến tranh chưa hoàn toàn khép lại với người lính Nguyễn Chơn.
Ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng.
Từ năm 1979 đến 1985, ông là Tư lệnh Quân đoàn 2.
Sau đó là Tư lệnh Quân khu 5.
Rồi ông giữ các cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Nhưng có lẽ những chức vụ ấy không nói hết được con người ông.
Bởi nếu chỉ nhìn vào chức vụ, người ta sẽ quên mất ông từng là một người lính thực sự đi qua chiến trường.
Ông từng ở nơi tiếng súng vang lên.
Từng nhìn thấy đồng đội ngã xuống.
Từng tự mình đối mặt với những tình huống mà chỉ một quyết định sai cũng có thể trả giá bằng mạng sống của rất nhiều người.
Đó là thứ không thể có được chỉ bằng những năm tháng ngồi trong phòng họp.
Và rồi có một câu chuyện rất khác về Nguyễn Chơn.
Không phải chiến dịch.
Không phải quân đoàn.
Không phải bản đồ tác chiến.
Mà là một câu nói.
“Đầu hàng chú Chơn đi con!”
Nghe qua, câu nói ấy có vẻ rất đời thường.
Thậm chí có chút hài hước.
Nhưng tôi lại thấy nó rất đúng với một người đã đi qua quá nhiều trận đánh.
Bởi một người thật sự hiểu chiến trường sẽ hiểu rằng chiến thắng không nhất thiết phải kết thúc bằng việc tất cả những người bên kia đều nằm xuống.
Nếu có thể buộc đối phương đầu hàng, thì đó cũng là một thắng lợi.
Nếu có thể kết thúc một trận đánh mà bớt đi những người chết, đó lại càng là một thắng lợi đáng giá.
Câu nói ấy vì thế không nên được nhớ như một giai thoại vui.
Nó nên được nhớ như một nét rất đời của một người lính đã trải qua quá nhiều chiến tranh.
Một người có thể rất quyết liệt khi chiến đấu.
Nhưng khi đối phương đã mất khả năng chống cự, ông vẫn muốn họ dừng lại.
“Đầu hàng chú Chơn đi con!”
Không cần phải nói thêm.
Nguyễn Chơn qua đời ngày 30 tháng 12 năm 2015, hưởng thọ 88 tuổi. Ông ra đi sau gần bảy mươi năm kể từ ngày khoác áo lính.
Nếu tính từ năm 1946, gần như cả cuộc đời ông nằm trong lịch sử quân đội.
Từ người lính.
Đến cán bộ phân đội.
Đến Trung đoàn trưởng.
Sư đoàn trưởng.
Tư lệnh Quân đoàn.
Tư lệnh Quân khu.
Rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Nhưng tôi nghĩ, nếu được hỏi ông muốn người đời nhớ mình bằng điều gì, có lẽ câu trả lời sẽ không nằm ở những chức vụ.
Bởi những chức vụ rồi cũng có người kế nhiệm.
Những quân hàm rồi cũng nằm lại trong lịch sử.
Những tấm bản đồ rồi cũng cũ.
Chỉ có người lính là còn ở lại trong câu chuyện.
Một người lính đã đi qua Khu 5.
Đi qua những năm tháng chống Pháp.
Đi qua Mậu Thân.
Đi qua Đường 9 - Nam Lào.
Đi qua mùa Xuân 1975.
Và đi đến cuối đời với một kho ký ức mà có lẽ không cuốn sách nào có thể kể hết.
Nguyễn Chơn không phải người tạo ra chiến tranh.
Ông là người được lịch sử đặt vào giữa chiến tranh.
Và ông đã làm điều mà một người lính phải làm:
đánh thắng khi buộc phải đánh, bảo vệ người lính của mình, và đưa cuộc chiến đến ngày kết thúc.
Đó mới là điều tôi muốn nhớ về ông.
Không chỉ là một vị tướng.
Không chỉ là một người anh hùng.
Mà là một người lính đã đi suốt một đời qua những trận đánh của dân tộc.
Và đến cuối câu chuyện, giữa tất cả những chiến công, những quân hàm và những trang sử dày đặc tên tuổi...
vẫn còn vang lên một câu nói rất đời:
“Đầu hàng chú Chơn đi con!”
Một câu nói nhẹ nhàng.
Nhưng phía sau nó là cả một đời trận mạc.


