DẤU THỜI GIAN
Nhà văn Trung Trung Đỉnh cùng mọi người trở lại Hoài Châu để đưa hài cốt liệt sĩ Phạm Trung Ổn về quê theo di nguyện của mẹ. Khi khai quật, hài cốt đã gần như tan vào cát, nên họ mang một phần cát về quê và để lại một phần ở nghĩa trang để người dân và chị em May – Đúng tiếp tục thờ cúng. Câu chuyện thể hiện tình nghĩa sâu nặng của người sống đối với người đã hy sinh và sự gắn bó thiêng liêng giữa liệt sĩ với mảnh đất Hoài Châu.
Anh Nguyễn Quốc Thì, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hoài Châu Bắc nói với chúng tôi rằng, phần mộ của liệt sĩ Phạm Trung Ổn, anh trai nhà văn Trung Trung Đỉnh, hiện đã qui tập về nghĩa trang liệt sĩ Đồi Mười. Việc di dời mộ ảnh về quê, xã có thể linh động giải quyết nhưng theo tôi, vẫn lời anh Thì, ông Đỉnh nên bàn thêm với chị em cô Đúng. Hơn ba mươi năm qua, phần mộ của anh Ổn đã là một phần đời sống tâm linh của chị em cổ!
Anh Đỉnh quay sang giải thích với tôi: cô Đúng là em cô May. Cô May là người yêu anh Ổn, hiện đã lấy chồng trong Phù Cát. Việc di dời mộ anh Ổn, anh Đỉnh đã bàn kỹ với cô Đúng qua điện thoại: “ Tôi cũng cảm thấy có sự hẫng hụt của chị ấy. Nhưng chị ấy cũng yên lòng vì dầu sao, đưa được anh Ổn về quê nằm cạnh cha mẹ, ông bà vẫn hợp đạo hơn”.
Tôi còn nhớ lúc ấy, khuôn mặt anh Thì thoắt trở nên trầm ngâm. Đây không phải là lần đầu anh giải quyết cho thân nhân các liệt sĩ ở ngoài Bắc vào xin di dời phần mộ của chồng con họ về quê. Đó là điều mà anh và các thành viên khác trong ủy ban xã không thể từ chối. Mặc dầu anh biết rằng, từ lâu, phần mộ của các liệt sĩ đã trở thành tài sản tinh thần quý giá của người và đất Hoài Châu. Anh bảo, mỗi lần một ngôi mộ được chuyển đi, anh lại cảm thấy trống vắng và thấy đất quê mình như nghèo đi. Còn nghèo cái gì, vì sao nghèo thì anh không thể giải thích cho rành rẽ được.
- Thôi vậy nè. Anh Thì đột ngột ngửng lên như đã tìm ra một giải pháp nào đó- Việc di dời mộ anh Ổn ta cứ tiến hành vào sớm ngày mai. Song, vẫn phải xây lại ngôi mộ như cũ để bà con và chị em cô May thờ cúng. Bây giờ ông Đỉnh xuống ngay nhà cô Đúng, còn ông – anh Thì quay sang tôi – Ông nên đến nhà má Hiệu. Tối, hai ông quay về nhà tôi họp mặt với đội du kích xã.
Tôi ra cổng trụ sở ủy ban, kêu một cuốc xe ôm. Chiếc xe cũ kỹ chồm qua những ổ gà ngập nước, bám theo con lộ đất đỏ rồi rẽ vào một xóm nhỏ. Trời vừa qua một cơn mưa lớn, cây cối trong các khu vườn ướt đẫm. Vẫn là những khu vườn cũ thấp thoáng những ngôi mộ cổ và những bụi cây cúc vang cằn cỗi, nhưng đã khác xưa rất nhiều. Cây cối, nhà cửa và nhất là dừa, lá dừa ken dày đan nhau trên vòm trời xanh ngút ngát. Mươi năm trước tôi cũng đã có dịp trở lại Hoài Châu. Ngày đó, khi tôi vừa bước vào nhà, má Hiệu không nói gì chỉ cầm chiếc áo đang vắt trên vai quật vào người tôi rồi ngồi xuống bộ ghế ngựa lặng lẽ khóc. Chị Hiệu, con dâu má bảo: Mấy bữa nay, không hiểu sao má hay nhắc tới chú hoài. Hồi chiến tranh, tôi đã từng ở nhiều ngày tháng trong căn hầm của má. Lúc thường tôi mắc võng trên cửa hầm. Khi pháo địch bắn rát, tôi chui xuống hầm ngủ chung với mọi người. Má nằm giữa, tôi một bên và cô Hương con gái má một bên. Sáng ra, má đi mở bò, tôi cùng cô Hương đi san ruộng hoặc dặm lại vồng khoai, khóm mì đêm qua bị pháo địch bắn nát. Nhiều ngày tôi đã ăn cơm với má, trở thành một thành viên của gia đình má cũng như trở thành thành viên của đội du kích xã. Vậy mà đã có những tháng ngày tôi quên. Tôi đã quên trong khi má Hiệu và những người dân Hoài Châu vẫn nhớ.
Lần gặp này tôi thấy má Hiệu trầm tĩnh hơn. Từ má không còn tỏa ra cái mùi trầu nồng ấm, một thời gian dài đã trở nên hết sức thân thuộc đối với tôi. Hồi đó, mỗi đêm theo đội du kích hoạt động trở về, tôi đều tạt vào vườn má Di hái mấy lá trầu còi cọc, trở nên rất hiếm hoi mang về cho má. Chị Hiệu bảo năm nay má đã ngoài tám mươi, bắt đầu có dấu hiệu của sự lầm lẫn và đã thôi không còn ăn trầu nữa. “Cách đây một tuần, không hiểu ai xui khiến, má tôi lại nhắc tới chú!”. Chị Hiệu cười bảo tôi.
| Tôi ngồi xuống bên cạnh má. Má chăm chú nhìn tôi, cặp mắt dừng lại hồi lâu trên mái tóc đã lốm đốm muối tiêu của tôi, bất giác má thở dài: - Tụi bây thế là cũng có tuổi rồi. Bữa sau về chắc chi tao còn. Mà nè, con Hương nó đang sắm đồ đoàn, tuần sau cưới hỏi cho sắp nhỏ. Con ráng ở lại với nó. Cũng như má Hiệu, tôi hiểu mình đã già. Một thế hệ nữa lại sắp đi qua mà vẫn chưa làm được gì cho người sống và cả cho người chết. Hồi ở với má Hiệu, tôi mới hai mươi ba tuổi, cô Hương con gái má hai mươi. Tôi vẫn nhớ cái cảm giác xao xuyến và yên tĩnh khi ngủ chung trong căn hầm có Hương nằm ở bên kia má Hiệu. Có một cái gì đó thật đẹp đẽ, quyến rũ của những năm tháng ấy khiến mỗi lần nhớ lại ta vừa thấy buồn se sắt vừa kiêu hãnh và hối tiếc. Tôi thưa với má những công việc phải làm. Cuộc gặp với đội du kích xã tối nay và sớm mai cùng với nhà văn Trung Trung Đỉnh dời phần mộ liệt sĩ từ nghĩa trang Đồi Mười về quê tận Hải Phòng. - Có phải mộ thằng Ổn không? – Má Hiệu thoáng giật mình hỏi tôi – Thằng Ổn hay giả trang làm con gái đó. Nếu là thằng Ổn thì phải bàn với con May, con Đúng. Thì ra, không chỉ thành viên cũ của đội du kích mà cả xã Hoài Châu Bắc mọi người đều biết mối quan hệ đặc biệt giữa chị em cô Đúng với phần mộ của liệt sĩ Phạm Trung Ổn. * * * Cuộc họp mặt của những chiến sĩ du kích vào đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước đã diễn ra thật cảm động trong căn nhà nhỏ của anh Nguyễn Quốc Thì. Chúng tôi ngồi quây quần trên ba chiếc chiếu nhựa trải trên nền nhà. Phần lớn các đội viên du kích ngày ấy còn sống đều có mặt. Đôi ba cặp đã trở thành vợ chồng, có cháu nội, cháu ngoại. Câu chuyện xoay quanh những trận đánh dữ dội trên đất Hoài Châu của sư đoàn Sao Vàng. Nhiều tên người được gọi lên, được nhắc tới. Những kỷ niệm của ba mươi năm trước chợt sống lại, xao động, nhức buốt như vừa mới xảy ra tuần lễ trước, tháng trước. Có lẽ cũng cần nói thêm rằng, vào những năm sáu tám, sáu chín, chiến trường Bắc Bình Định là một trong những chiến trường khốc liệt nhất của miền Trung. Sau Tết Mậu Thân, thế trận chiến lược da báo bị xóa, sư đoàn Sao Vàng, một sư đoàn chủ lực, từng là nỗi kinh hoàng của sư đoàn không vận số 1 Mỹ và sư đoàn 22 ngụy buộc phải xé nhỏ đội hình, thọc xuống đồng bằng bám đất, bám dân, sử dụng phương thức tác chiến của du kích biệt động. Anh Phạm Trung Ổn, một cán bộ trinh sát của trung đoàn 22 sư đoàn Sao Vàng trở thành cán bộ của huyện đội Hoài Nhơn cắm trên địa bàn Hoài Châu bắt đầu từ sự lựa chọn có tính chất sinh tử ấy. Những người dân ở Liễu An, An Quý, thường kể rằng, từ khi có cán bộ của sư đoàn Sao Vàng trở về, phong trào Hoài Châu bật dậy rất nhanh. Các đội du kích thôn, xã dần dần được khôi phục và theo đó là những trận đánh nhỏ lẻ nhưng ác liệt liên tiếp xẩy ra tại các nhà hàng, nơi ở và cả trụ sở, căn cứ của bọn tề điệp, chính quyền ngụy. Một tên xã trưởng đang nằm trên giường ngủ, bất chợt bị dựng dậy trước cặp mắt kinh hoàng của vợ con. Người chiến sĩ biệt động gí súng vào sườn anh ta, đẩy ra đầu ấp tuyên án và nổ súng. Một tên chỉ điểm đang trồng cây, bất ngờ một tiếng gọi, ngẩng lên, một họng súng lăm lăm đã chĩa vào ngực anh ta. Máu loang đỏ trên mặt đất đang đào dở... Những trận đánh như thế khiến bọn ác ôn, tề điệp co lại trong các căn cứ, trụ sở căng dày dây kẽm gai và những trận phục kích, càn quét có xe tăng, máy bay và đại bác yểm trợ liên tục xẩy ra dai dẳng biến Hoài Châu trở thành một vùng đất chết. Trong buổi gặp mặt tối ngày hôm ấy, người được nhắc đến nhiều nhất là Phạm Trung Ổn. Chị Nguyễn Thị Đúng kể rằng, anh Ổn được bố trí ở một căn hầm (mật) trong nhà chị. Căn hầm đào ngay dưới nền bếp. Ban ngày anh nằm ngủ. Đêm trở dậy đi hoạt động. Anh người nhỏ, trắng trẻo. Nhiều lần anh giả trang thành một cô gái, đội nón lá, bận áo bà ba đen, quần đen vào sát Tam Quan, có bữa vào hẳn trong chợ, đi lẫn với bọn bảo an, dân vệ mà không ai nhận ra anh là con trai chứ chưa nói tới chuyện phát hiện ra một chiến sĩ biệt động táo bạo và có phần liều lĩnh. Chị Đúng còn kể, Ổn có một hòm đại liên. Trong đó để một cuốn nhật ký và một vài kỷ vật khác. Mỗi lần đi hoạt động, anh đều giao cho chị May và chị Đúng giữ giùm. Một lần, khi anh vừa đi khỏi, hai chị em tò mò mở hòm đạn ra coi, lén đọc trộm nhật ký của Ổn. Trang đầu cuốn sổ là một dòng chữ to: “Nếu tôi phải vĩnh biệt thế giới này thì xin chuyển giùm cuốn nhật ký này cho mẹ tôi”...Cả hai cô gái đều không biết vĩnh biệt nghĩa là sao bèn đem hỏi một ông thầy tiểu học trong xóm. Ông thầy giải thích đơn giản: Vĩnh biệt có nghĩa là “Chết”. Nghe vậy, cả hai chị em khóc ầm lên, cùng bắt Ổn xóa bỏ những dòng chữ khủng khiếp đó. Đối với hai cô gái trẻ, một người đẹp trai, dũng cảm và tốt như anh Ổn không thể nào chết được. Hình như tình yêu của ba người bắt đầu được nhen nhóm từ trang nhật ký đó. Lưỡi xẻng trong tay người quản trang đột nhiên dừng lại. Lòng mộ đã hiện ra một màu cát đen. “Đến rồi!”. Anh cắm chiếc xẻng lên thành mộ, rút trong túi quần ra một mảnh tre nhỏ nhẵn bóng. Anh thận trọng ngồi xuống gạt nhẹ từng lớp cát mỏng. Vẫn không có gì ngoài cát, nhưng đã thấy một ít thớ gỗ và một vài mảnh xương vàng khô nằm lẫn trong màu đen của cát. |


