ĐẤU TRANH CỦA TÙ BINH CĂNG CÂY DỪA (1953 – 1954) (1)
I. ĐẢNG ỦY LÃNH ĐẠO CÁC HOẠT ĐỘNG Ở CĂNG CÂY DỪA
Trong một thời gian ngắn, Đảng ủy Căng vừa ổn định tổ chức, vừa xây dựng xong Ban Tự quản và các tổ chức quần chúng (công khai và bí mật).
Điều thuận lợi cho hoạt động lãnh đạo của Đảng ủy Căng Lâm thời cũng như Đảng ủy Căng mới được bầu đó là: đảng viên Căng Cây Dừa từng bị giam ở nhà tù các tỉnh, có hiểu biết nhau ngoài đời hoặc có thời gian cùng sống chung trong một nhà tù hoặc trại giam ở đất liền, một số nơi đã có tổ chức Đảng được thành lập đúng nguyên tắc, có nơi có liên lạc với cơ sở Đảng địa phương, được công nhận và giao nhiệm vụ lãnh đạo trong trại giam và khi địch di chuyển. Mặt khác, thành phần tù binh Căng Cây Dừa chủ yếu là người đã tham gia kháng chiến (trong đó phần lớn là bộ đội và du kích, cán bộ kháng chiến ở các ngành, các cấp, đa số tù binh đã là đảng viên, chỉ một số lượng nhỏ là dân thường) nên thành phần đảng viên thuần nhất và có bản lĩnh chính trị vì được giáo dục bài bản từ khi chưa bị bắt.
Ở Căng Cây Dừa, thực dân Pháp chưa có kinh nghiệm và không đủ sức điều hành, quản lý sâu và tỉ mỉ vào các trại tù mà chúng chỉ nắm tình hình tù binh qua Ban Đại diện trại, do đó rất thuận lợi cho hoạt động của tổ chức Đảng.
- Công tác giáo dục chính trị tư tưởng
Đảng ủy chủ trương đặt trọng tâm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng giúp đảng viên và quần chúng giữ vững lập trường, phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ cách mạng. Trong đó chú trọng cả hai mặt: xây dựng cơ sở, xây dựng con người và đấu tranh chống đàn áp, đày đọa tù nhân. Bên cạnh đó, tích cực làm công tác binh vận trong hàng ngũ địch.
Các chi bộ lãnh đạo thông qua Ban Đại diện, giáo dục anh em ổn định tư tưởng, dù trong hoàn cảnh nào cũng luôn giữ vững khí tiết của người cách mạng, cảnh giác với âm mưu của địch, sẵn sàng chịu đựng những hình thức đánh đập, tra tấn của bọn quản lý Căng; không hoang mang, dao động trong mọi tình huống... Các “Gia đình tù” sẽ là nơi anh em tù gửi gắm tình cảm và là nơi hỗ trợ tinh thần cho anh em.
Ban Đại diện động viên anh em tù binh tham gia sinh hoạt tập thể: buổi sáng tổ chức chào cờ (tuy không có cờ), hát bài “Tiến quân ca”, mọi người đứng nghiêm trong trại, sau đó mới ra sân tập thể dục; chiều tối, từng tốp tập văn nghệ; buổi tối tổ chức học chính trị, văn hóa... để giữ gìn sức khỏe, nâng cao trình độ và thu hút anh em tham gia để quên đi ngày tháng bị giam giữ trong Căng và qua đó, gắn kết với nhau hơn. Vì vậy, không khí trong Căng trở nên vui tươi, phấn khởi, mọi người an tâm sống và đấu tranh chống địch, chờ ngày trở về với cách mạng.
Cũng trong thời gian này, Đảng ủy tập trung vào đợt phê và tự phê trong các Liên Chi bộ và học tập nghị quyết về tình hình nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới nhằm nâng cao phẩm chất cách mạng của đảng viên, giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng trong điều kiện khắc nghiệt của trại giam. Đảng ủy chỉ đạo mỗi trại hàng tháng ra một tờ báo tường với nội dung nhẹ nhàng, chủ yếu phản ánh cuộc sống của tù binh để giáo dục và tạo không khí lạc quan cho tù binh trong hoàn cảnh lao tù. Báo tường được treo ở nơi công cộng mà bọn địch không có cớ gì ngăn cản.
Đặc biệt, Đảng ủy ra được tờ Nội san, bí mật lưu hành trong các Liên Chi bộ. Số đầu, nội dung phục vụ cho đợt học tập, kiểm điểm đảng viên. Đồng chí Nguyễn Đức Dụ được giao nhiệm vụ phụ trách; đồng chí Dụ và đồng chí Lê Vũ (Vũ Lăng) viết bài, đồng chí Tuynh (đoàn viên) chữ đẹp được giao “lên khuôn” cho tờ Nội san.
Theo đồng chí Lê Vũ[1], tờ Nội san đầu tiên ra kịp ngày kỷ niệm toàn quốc kháng chiến (19-12-1953). Nội dung gồm những bài chủ yếu: “Tình hình và nhiệm vụ trước mắt”; “Thái độ người tù binh cách mạng”; “Hướng dẫn về cách tổ chức học tập và thảo luận” và “Về hoạt động trong nội bộ”...
Số báo thứ hai ra vào đầu năm 1954 tiếp tục giới thiệu về thắng lợi của cuộc kháng chiến, củng cố lòng tin cho anh em với kháng chiến, với tương lai và nhiệm vụ phải tiếp tục đấu tranh khi còn ở trong tù. Về in, chúng tôi áp dụng lại “kỹ thuật cổ điển” dùng trong vùng địch hậu: viết chữ ngược bằng mực tím thật đặc, in trên khuôn đất sét, mua mực và giấy in. Chúng tôi chọn giấy xi măng để in vì giấy dai, nhiều người đọc được.
Thế là số báo đầu tiên trong trại giam ra đời, in khá đẹp, khá rõ (trong hoàn cảnh lúc bấy giờ), bên ngoài vẽ một người tù đang đập xiềng, trói hai tay, lấy tên: “Giữ tròn khí tiết”, tờ nội san số 1 của Phú Quốc. Để giữ được bí mật, chúng tôi chỉ in năm bản cho năm căng và một bản gốc, chứ không in thêm. Nhận được báo và hướng dẫn học tập, anh em rất phấn khởi, thấy được sự lãnh đạo của Đảng có mặt ở khắp nơi và sự thống nhất chỉ đạo trong đoàn kết. Kết quả rõ nhất của tờ Nội san là đã góp phần củng cố và giữ vững được tinh thần của anh em trong đợt khủng bố khốc liệt của địch sau đợt vượt ngục thắng lợi của hai mươi anh em tù binh.
Khi phát hiện được một tờ Nội san số 1, quá ngạc nhiên và sửng sốt, địch đã báo động giới nghiêm trong toàn trại, truy tìm xuất xứ tờ báo, tìm người chủ mưu, viết và phát hành. Vì tuy tờ báo có hai mươi tám trang, in trên giấy xi măng, nhưng địch cho rằng rất nguy hiểm đối với chúng, đặc biệt tờ báo đó đã lưu hành rộng rãi, chứng tỏ việc chỉ đạo trong toàn trại đã đặt dưới quyền của Đảng bộ Cộng sản trong trại giam.
Tờ Nội san ra đến số thứ hai (năm 1954) thì ngừng vì bị bọn chỉ điểm báo nên bọn cai ngục phát hiện và tịch thu cả số trước. Nhưng chúng không có cơ sở để kết tội những người viết vì các bài viết đã được ngụy trang khéo léo và có quy ước riêng, chỉ có đảng viên đọc mới hiểu hết ý nghĩa[2].
Đồng thời, Đảng ủy trực tiếp giải quyết những vấn đề vướng mắc trong nội bộ đảng viên, chi bộ như mâu thuẫn do chưa hiểu nhau, do nghi ngờ lẫn nhau... Các đồng chí trong Đảng ủy đã gặp gỡ, phân tích một cách có tình có lý những ưu, khuyết điểm của những đảng viên liên quan... Vì vậy, các chi bộ nhanh chóng ổn định được tổ chức và tiếp tục chuẩn bị cho những chuyến vượt ngục của tù binh.
Ban đêm, vào các ngày lễ lớn của dân tộc, các đội thông tin, tuyên truyền của tù binh đi đến từng trại, dùng loa đọc tin thời sự do Ban Thông tin tự soạn, nội dung giải thích cho tù binh hiểu rõ những chủ trương chính sách của Đảng, của quân đội ta, chỉ ra những âm mưu, thủ đoạn của địch để tù binh cảnh giác, nhất là thủ đoạn tâm lý chiến, đồng thời tổ chức mít tinh, biểu diễn văn nghệ... Ban Đại diện giao cho một cán bộ trẻ nguyên là bộ đội hoặc phụ trách thiếu nhi, tập hợp các em trong độ tuổi từ 12 đến 15 tuổi lại tổ chức sinh hoạt Đội và dạy các em học văn hóa, sinh hoạt văn nghệ, thể dục thể thao riêng theo chương trình phù hợp với lứa tuổi của các em.
Đảng ủy quan tâm đặc biệt đến công tác phòng gian, giao cho các Liên Chi ủy kịp thời phát hiện, lập hồ sơ những tên chỉ điểm, làm tay sai trá hình cho địch trong các nhà tù trước đây và tiến hành kiểm điểm theo từng mức độ: loại tội nhẹ thì kiểm điểm theo gia đình, loại nặng thì kiểm điểm theo địa phương; những tên ác ôn, nguy hiểm thì kiểm điểm toàn trại. Trong kiểm điểm, các Liên Chi ủy lãnh đạo quần chúng có thái độ nghiêm khắc, nêu rõ những khuyết điểm của họ, nhưng cũng mở đường cho họ nhận ra lỗi lầm, khoan dung tha thứ cho họ chuộc lỗi trở về với đồng đội. Vì vậy đã góp phần giúp cho tù binh nhận mặt những tên chỉ điểm để phòng tránh và răn đe những người đang có những biểu hiện lung lạc trước sự dụ dỗ, mua chuộc của kẻ thù.
Một trong những hoạt động tiêu biểu, gây được tiếng vang lớn làm nức lòng tù binh toàn Căng Cây Dừa, đó là việc Đảng ủy Căng tổ chức Lễ Kỷ niệm Quốc khánh (2-9-1953). Ban Đại diện tù binh đã công khai thông báo cho bọn chỉ huy các trại biết về việc tù binh tổ chức ngày lễ này, đề nghị cho toàn thể tù binh tham dự và yêu cầu để tù binh được nghỉ lao động, được tổ chức vui chơi và sinh hoạt văn nghệ. Đồng thời, mời các sĩ quan, hạ sĩ quan chỉ huy trại vào tham dự (nhưng giấu việc tổ chức mít tinh). Bọn chỉ huy các trại đồng ý với các yêu cầu của tù binh nên không gây khó khăn gì...
Đảng ủy công khai tổ chức lễ kỷ niệm một cách long trọng: có cờ, hoa, khẩu hiệu và tổ chức thi đấu thể thao, văn nghệ và trò chơi. Trong buổi biểu diễn văn nghệ, một số sĩ quan và hạ sĩ quan vào xem được tổ chức đón tiếp chu đáo và chúng cũng tỏ ra lịch sự. Đến khi vở kịch tự biên về cuộc kháng chiến của nhân dân ta, trong tiết mục có dùng súng biểu diễn, anh em lợi dụng một cảnh diễn, chĩa súng vào bọn địch mà bắn, bọn chúng tự ái đứng dậy bỏ đi nhưng sau đó không có phản ứng gì, lợi dụng cơ hội này, ta tổ chức mít tinh toàn trại thành công.
- Tổ chức chăm lo đời sống cho tù binh
Các mặt hoạt động trong Căng, nhất là trại B được đẩy mạnh. Một mặt, Đảng ủy lãnh đạo các Liên Chi ủy giúp anh em các trại giữ vững tinh thần, tiếp tục tăng gia sản xuất, tự túc trồng rau, sử dụng cơm và thức ăn thừa nuôi heo... để bổ sung thêm thực phẩm cho các bữa ăn của tù binh, trong đó, rau, thịt tăng lên gấp rưỡi, góp phần bảo vệ sức khỏe tù binh.
Hoạt động tài chính, gây quỹ trại được mở rộng trong tất cả các ngành, nghề, trở thành phong trào chung được tù binh tích cực tham gia: các đội gò, hàn, mộc, may và hớt tóc... ngoài việc phục vụ anh em tù binh, còn tranh thủ làm thuê cho bọn cai ngục, hạ sĩ quan, binh lính và gia đình họ, tranh thủ gây cảm tình với họ và lấy tiền đưa vào quỹ chung của trại. Quán tự túc (căng tin) quan hệ với chủ tàu từ đất liền ra nhờ mua giúp những hàng hóa sinh hoạt bán cho anh em và binh lính địch để lấy lãi mua giấy bút cho anh em học văn hóa, mua thuốc trị bệnh cho tù binh ốm đau và cung cấp quần áo, đồ dùng cho anh em tù binh, cải thiện cuộc sống. Ngoài ra, còn mua các đồ dùng để anh em tự may trang phục, tạo nhạc cụ hoạt động văn nghệ.
Tổ chức các cuộc đấu tranh đòi địch phải cung cấp đủ tiêu chuẩn gạo và thực phẩm cho tù binh, đình công không đi lao động tạp dịch để phản đối địch vô cớ bắn chết tù binh. Đã có lần anh em đấu tranh mạnh, địch phải dùng máy bay tiếp tế thực phẩm cho tù binh. Vì vậy, đời sống của anh em được đảm bảo hơn.
- Tổ chức học văn hóa
Đảng ủy Căng nhận thấy, đa số anh em do hoàn cảnh lúc bấy giờ không được đi học nhiều nên trình độ học vấn còn thấp, cán bộ, bộ đội trình độ chỉ lớp ba, lớp bốn. Chỉ một số ít có điều kiện đi học thì trình độ khá hơn, khoảng lớp sáu, lớp bảy. Với mục đích “biến nhà tù thành trường học”, Đảng ủy Căng đã tổ chức cho anh em học văn hóa, chính trị, tranh thủ triệt để thời gian nhàn rỗi nhằm nâng cao kiến thức văn hóa, trình độ chính trị và năng lực tổ chức hoạt động cách mạng giúp anh em ổn định tinh thần, củng cố thêm niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.
Với khẩu hiệu “Người biết chữ dạy người chưa biết, người chưa biết đi học người đã biết”, Ban Đại diện chọn ra trong những anh em tù binh ai có trình độ cao hơn thì dạy người trình độ thấp hơn, ví dụ, người có trình độ lớp năm, sáu dạy người lớp hai, ba; người có trình độ lớp bảy, tám thì dạy người lớp năm, sáu. Vì vậy, có người khi sáng là thầy giáo lớp hai nhưng đến chiều lại là học sinh lớp bảy...[3]
Môn học chủ yếu là Tập đọc, Ngữ pháp, Toán và các bài Chính trị. Sách giáo khoa được Đảng ủy, Chi bộ các trại nhờ bộ phận căng tin mua giúp. Riêng môn Chính trị, anh em ngồi lại cùng nhau hồi tưởng lại những bài chính trị đã được học khi còn ở bên ngoài, rồi viết thật gọn, thật dễ hiểu để làm tài liệu giảng dạy.
Học viên ngồi dưới nền trại, nhìn lên bảng. Bảng là mảnh vải bố quét sơn đen, một loại sơn rất độc đáo được pha chế từ tro bếp trộn dầu luyn. Ban Đại diện làm công tác “ngoại giao" với người làm bếp, nhờ anh này mua hộ giấy, bút và phấn. Anh em học tập rất chăm chỉ, tuy nhiên tiếp thu bài có người nhanh, người chậm, những người chậm tiếp thu sẽ được thầy giáo kèm cặp thêm. Các bài học cũng được chấm điểm để đánh giá kết quả nên đã động viên anh em thi đua học tập. Đầu năm 1954, địch quản lý có phần nới lỏng hơn, anh em học tập cũng thoải mái, không sợ chúng phát hiện, thu sách vở.
Phong trào học tập thu hút đông đảo anh em tham gia. Kết quả, anh em được nâng cao kiến thức văn hóa, lập trường chính trị, có sự nhận định đúng đắn về âm mưu, thủ đoạn của địch để đối phó kịp thời và nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta, tin tưởng vào Đảng và cách mạng. Điều đó được chứng minh sau khi anh em được trao trả, trở về với cuộc sống và tiếp tục tham gia kháng chiến, nhiều anh em đã trở thành những cán bộ lãnh đạo cốt cán của các đơn vị, địa phương và cơ quan công tác. Có người tiếp tục học lên cao và trở thành những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và quân đội ta.
[1] Vũ Lăng, Bão chuyển, Nxb. Mũi Cà Mau, 2009, tr. 4, 5, 6. [2] Huy Ninh, Phú Quốc - Sóng dội Hòn Dừa, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Hưng, 1991, tr. 87 - 88 [3] Kiên trung bất khuất, tập 1, Nxb. Hà Nội, 2005, tr. 274 - 275 (Phạm Dư, Dạy học trong Nhà lao Cây Dừa).



