Bài viết

ĐẤU TRANH CỦA TÙ BINH CĂNG CÂY DỪA (1953 – 1954) (2)

An Giang22/05/2026chi đoàn vườn quốc gia phú quốc (Đoàn đặc khu Phú Quốc)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

ĐẢNG ỦY LÃNH ĐẠO CÁC HOẠT ĐỘNG Ở CĂNG CÂY DỪA

- Tổ chức vượt ngục

Thời gian đầu việc bố phòng canh gác của địch còn sơ sài, lực lượng binh lính canh gác chỉ có một trung đội lính Marốc đảm nhiệm. Địch chưa can thiệp sâu vào bên trong trại tù nên lãnh đạo Căng chủ trương: “Ta phải nắm lấy thời cơ, tranh thủ xây dựng lực lượng cách mạng vượt lên trước kẻ địch; đồng thời tranh thủ giải thoát tù binh trước khi địch kịp củng cố phòng thủ trại”[1].

Đồng chí Nguyễn Văn, Bí thư Chi bộ Đoàn thứ hai nhớ lại: Đảng bộ Căng chỉ đạo ai có điều kiện trốn được thì cứ trốn, không đợi tổ chức quy mô. Đảng ủy Căng giao cho các đồng chí biết tiếng Pháp tranh thủ làm công tác binh vận cho những binh lính người An-giê-ri, Marốc, Xê-nê-gan... tố cáo thực dân Pháp gây nên chiến tranh ở Việt Nam và ở các thuộc địa, giải thích cho họ hiểu họ là bạn của chúng ta và cùng chung kẻ thù là thực dân Pháp. Kết quả, lính Âu - Phi không đánh đập tù binh khi họ mắc lỗi và cố tình bỏ qua cho tù binh khi có người trốn trại.

Công tác phòng gian cũng được Đảng ủy Căng quan tâm, dựa theo từng gia đình, từng địa phương để phát hiện những tên tù binh làm tay sai cho Pháp, rồi tùy theo mức độ tội lỗi của chúng mà có biện pháp giáo dục, quản lý và tuyệt đối không cho những đối tượng này đi làm ngoài trại, nhằm hạn chế sự liên lạc của chúng với địch.

Để chuẩn bị cho anh em vượt ngục biết đường đi ra căn cứ và không bị lạc, Đảng ủy dùng tấm bản đồ Phú Quốc do quân đội Tưởng Giới Thạch vẽ tay bằng chữ Hán để lại, cho anh em tù binh can lại trên giấy pơluya thành nhiều bản và dịch ra tiếng Việt các địa danh để phát cho các đoàn vượt ngục[2].

Đào hầm (cuộc vượt ngục bằng đường hầm) được đồng chí Nguyễn Văn (Tân Cao), Bí thư và đồng chí Thạch Văn, chỉ huy chung chỉ đạo cụ thể và tổ chức quy mô[3], chu đáo. Hầm được đào ở gian đầu nhà số 2 ở trại A qua hàng rào dây kẽm gai sang trại B (vì trại B lúc này chưa có người ở). Ba đồng chí gồm: Chính (quê Hải Dương), Thường, Chắt (Nam Bộ) chỉ huy thi công. Lực lượng thi công được chia thành các đội: đội đào, đội lấy gỗ làm rầm (gỗ được gom từ những tấm ván chắc chắn lấy khi đi làm ngoài, lấy cớ là để làm giường nằm), tổ cấp dưỡng... các đội chia ca để thay nhau làm việc, dùng đèn pin rọi làm ánh sáng để đào. Hầm đào đến đâu, ghép gỗ làm rầm đến đấy để chống lún, lở đất. Đất được san phẳng thành nền. Khi các tổ đào hầm, trong phòng giam anh em nói chuyện, ca hát thật to để át tiếng động cho đến giờ giới nghiêm.

Kế hoạch của Chi ủy là khi hầm đào xong, tổ chức trốn ra ngoài và giải phóng tù nhân trại giam, dự kiến vào đầu hoặc giữa tháng sau khi địch tiếp tế lương thực và thực phẩm ra cho tù binh, thì tổ chức đánh úp địch và cướp tàu trở về...Nhưng cuối cùng kế hoạch không thực hiện được, vì thời gian này địch liên tiếp đưa nhiều chuyến tàu chở tù binh ra với số lượng rất đông. Mặt khác, khi hầm đào gần xong, do sơ suất khi địch vào trại điều thêm người đi lao dịch đã để lại tên Nguyễn Thế Bào, tên phản bội, đã báo với bọn Pháp về việc đào hầm này. Ngay lúc đó, Chi ủy quyết định hoãn đào hầm, tổ chức lấp hầm lại trước khi bọn Pháp vào lấy cớ kiểm tra để lấy người đi lao động bên ngoài.

Nhận được tin báo của tên Bào, 13 giờ 30 phút hôm đó, địch cho 2 tiểu đội Marốc mang hai khẩu súng trung liên và súng trường phục ở phía ngoài hàng rào. Tên chỉ huy cùng một số tên lính vào trại khám xét và gọi anh Nguyễn Hữu Thanh - Đại diện trưởng ra tra hỏi.

Anh Nguyễn Hữu Thanh đáp: “Khi chúng tôi biết họ đào hẩm, chúng tôi đã kịp thời ngăn chặn, bắt họ lấp đi rồi...”. Câu trả lời khéo léo của đồng chí Nguyễn Hữu Thanh đã làm cho bọn địch không buộc tội được anh Thanh và không có cớ để bắt anh em. Còn tên Nguyễn Thế Bào, địch muốn tiếp tục sử dụng tên này làm tay sai nên vờ tống hắn vào chuồng cọp dưới chân chòi gác cổng trại A.

Đảng ủy chỉ đạo anh em nghiên cứu lý lịch tên Nguyễn Thế Bào và được biết tên này đã phản bội làm chỉ điểm cho Phòng Nhì Pháp từ khi còn ở Căng Đoạn Xá (Hải Phòng). Khi ra đảo, mặc dù được tổ chức giáo dục nhưng y vẫn không giác ngộ mà tiếp tục làm tay sai cho địch. Đảng ủy ra nghị quyết phải trừng trị tên phản bội này để làm gương cho những tên còn giấu mặt nên đã giao cho đồng chí Nguyễn Quang Thấu và hai anh nữa thực hiện việc xử tử tên Bào khi hắn được đưa sang chuồng cọp. Lệnh được ba anh thi hành ngay.

Hôm sau, bọn Pháp phát hiện tên Bào chết nên bắt những người bị giam trong chuồng cọp ra tra khảo. Anh Thấu đã đứng dậy và dũng cảm tuyên bố với địch: “Chính tôi đã giết tên phản bội này. Tù binh là những người kháng chiến cứu nước, vượt ngục là việc làm chính đáng của anh em, tên này chống lại anh em là phản bội Tổ quốc, tội nó đáng chết, tôi thay mặt nhân dân xử tội nó...”[4].

Trước khi các anh tử hình tên Bào, qua tra khảo hắn đã khai ra tên đồng bọn là Đỗ Ngọc Tháp (từ trại giam Hỏa Lò ra đảo). Các anh tiếp tục trừ khử tên này nên đã làm cho bọn phản bội trong trại giam hoang mang, lo sợ.

Cướp súng địch khi đi làm ngoài trại, ngày 8-9-1953[5]: theo thường lệ, hàng ngày bọn cai ngục cử khoảng 50 tù binh đi lấy củi, hoặc đi cùng với lính công binh để sửa chữa con đường ô tô từ Sở Chỉ huy Cây Dừa đến bốt Cây Cầy (cách Căng Cây Dừa khoảng 7 kilômét và cách bốt Cây Cẩy 3 kilômét), nơi làm đường ở xa đồn bốt địch, hai bên đường là rừng cao su rất dễ ẩn nấp.

Đảng ủy Căng chủ trương cho anh em lợi dụng điều kiện thuận lợi này để tổ chức đánh bọn giải tù binh, cướp súng vượt ngục. Kế hoạch vượt ngục được anh em nghiên cứu một cách chi tiết và chuẩn bị rất chu đáo.

Đảng bộ Căng chọn 54 người, trong đó hơn 40 là anh em quê miền Bắc và hơn 10 người quê miền Nam, lập thành Đoàn vượt ngục, giao đồng chí Lê Sinh (trước đây là Trung đội phó Trung đoàn 98, quê Phú Thọ) làm Đoàn trưởng, đồng chí Hoàng Văn Nghi phụ trách chính trị.

Ngày 8-9-1953, 54 anh em được bố trí xếp hàng theo thứ tự đi làm như thường lệ. Địch cho 15 tên lính Phi với vũ khí toàn súng trường Mát và một viên đội cũng là Phi mang súng lục viên đội áp giải tù binh.

Đến nơi làm việc, anh em tiếp tục nghiên cứu tình hình và tương quan lực lượng giữa tù binh với lính Âu - Phi và lính công binh, rồi thống nhất với nhau về kế hoạch cướp súng địch đánh lại địch để giải thoát. Anh em được chia làm bốn bộ phận, mỗi bộ phận tương đương một tiểu đội, do bốn đồng chí Nghi, Liêu, Xuân, Đối phụ trách. Mỗi bộ phận chia ba, bốn nhóm để vừa đủ mỗi nhóm ba người (hoặc hai người khỏe) đánh một lính...

Nhờ kế hoạch được anh em chuẩn bị chu đáo nên trận đánh diễn ra rất nhanh gọn vào giữa buổi sáng ngày 8-9- 1953. Kết quả, ta giết chết 1 lính Phi và làm bị thương 3 tên.

Tổng kết trận này, ta đã giải thoát được 51 người nhưng hy sinh 2 đồng chí (đồng chí Hoàn, quê Kiến Thụy, Kiến An, hy sinh ngay tại trận; đồng chí Đãi, quê xã Quang Minh, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Hưng, hy sinh do bị phục kích trên đường) và bị bắt 1 đồng chí (đồng chí Chung, quê Vĩnh Bảo, Hải Phòng).

Cuộc vượt ngục thắng lợi đã động viên tù binh rất nhiều trong việc tổ chức tự giải thoát sau này; đồng thời gây tâm lý hoang mang, dao động cho lính Âu - Phí. Nhưng vì anh em đã bắn chết một tên lính Marốc nên từ đó về sau công tác binh vận trong hàng ngũ lính Âu - Phi gặp khó khăn, hơn 10 tên lính Marốc anh em đã vận động được nay nghi ngờ, trở nên cảnh giác với anh em. Đồng thời, địch gia tăng việc đàn áp, đánh đập tù binh hơn trước.

Mặc dù bị khủng bố gắt gao nhưng Đảng ủy Căng vẫn tiếp tục đặt nhiệm vụ trọng tâm tìm mọi cách tổ chức cho tù binh vượt ngục, càng nhiều càng tốt.

Thời gian này, Tỉnh ủy Long Châu Hà đã phân công đồng chí Lê Phú Hữu, Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ty Công an ra đảo thành lập Ban Chỉ huy Giải phóng tù binh Căng Cây Dừa (bên ngoài công khai gọi là Ban Bảo vệ Chính trị phạm tỉnh Long Châu Hà), tổ chức một tiểu đội trinh sát với nhiệm vụ bám sát Căng Cây Dừa, theo dõi sự bố phòng của địch ở xung quanh và nghe ngóng tình hình anh em trong tù hàng ngày. Ban Chỉ huy xây dựng khu căn cứ ở xã Dương Tơ, bên ngoài gọi là trại sản xuất nhưng vừa là nơi làm việc, vừa là nơi đón đưa anh em vượt ngục trở về đất liền, đặt địa điểm gửi thư vào Đảng bộ Căng Cây Dừa và nhận thư của Đảng bộ Căng Cây Dừa báo cáo ra[6]. Thỉnh thoảng, Ban Chỉ huy căn cứ tổ chức phát thanh và rải truyền đơn với nội dung tổ chức đấu tranh với địch đòi đảm bảo cuộc sống của tù binh theo Công ước Genève và khẳng định cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta nhất định thắng lợi... Nhiều truyền đơn mà anh em đã nhặt được, thậm chí binh lính nhặt được đưa anh em đem về chuyền tay nhau đọc, càng thôi thúc anh em vượt ngục...

Cuộc nhảy rào vượt ngục được tổ chức vào đêm 17-9- 1953[7]: Đảng ủy Căng giao cho đồng chí Liên làm Trưởng nhóm vượt ngục và đồng chí Nguyễn Hồng Tuấn làm Chính trị viên. Kế hoạch cuộc vượt ngục được Đảng ủy Căng và các Chi ủy chuẩn bị một cách chu đáo qua việc theo dõi lộ trình giờ cúp điện thay máy nổ hàng đêm (5 phút tắt điện).

Vào đêm 17-9-1953, lợi dụng lúc lính gác tắt điện, nhóm vượt ngục thực hiện kế hoạch nhảy qua hàng rào trại giam chạy về phía biển. Nhưng khi nhóm vượt ngục ra đi, một số khá đông anh em không có trong danh sách đoàn cũng đi theo nên gây ra tiếng động mạnh khi vượt rào làm cho bọn lính gác nghi ngờ. Chúng cảnh giác nên đã nổ súng vào nơi phát ra tiếng động và bật đèn báo động. Súng nổ làm cho một anh bị chết ngay khi đang vượt rào, xác anh bắc ngang hàng rào.

Hai mươi anh em chạy thoát, trên đường đi, dù phải trải qua nhiều khó khăn vất vả do bị lạc, đói khát, ốm đau nhưng nhờ tinh thần đồng đội cao cả, các anh đã đoàn kết, giúp đỡ nhau đến được xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc.

Sáng 17-9-1953, bọn cai ngục bắt đầu cấm trại, bắt tù binh xếp hàng và đếm số lượng tù binh để lập danh sách những người trốn trại. Kế hoạch đối phó sau khi Đoàn vượt ngục ra đi cũng đã được chuẩn bị, Ban Đại diện bố trí những người đứng phía trên, sau khi đã điểm danh, lén ra phía sau xếp hàng cho địch kiểm tra lại. Sau khi đếm thấy chỉ thiếu bốn người nên việc khủng bố tù binh của địch cũng đỡ căng thẳng hơn lần trước.

Tuy nhiên, để trả thù và uy hiếp tinh thần tù binh, địch cho lính canh xác người bị bắn chết, không cho mai táng và để thi thể tù binh này vắt ngang qua hàng rào, phơi nắng. Đến buổi chiều vì sợ tù binh đấu tranh chúng mới cho đưa đi mai táng.

Sau cuộc vượt ngục trên, bọn địch tổ chức đàn áp tù binh rất dã man. Đúng giờ nghỉ trưa, chúng cho ca nô con vào gọi anh Nguyễn Hữu Thanh, Đại diện trưởng đưa ra tàu lớn đưa đi biệt tích. Ngoài ra, bọn cai ngục đã tra tấn tù binh dã man, đặc biệt là ba người trong chuồng cọp nhưng chúng không khai thác được gì. Sau đó cả ba người bị đưa đi đâu không rõ. Trước tình hình trên, Đảng ủy phân công đồng chí Thu[8] là Ủy viên Thư ký của Ban Đại diện trại thay đồng chí Nguyễn Hữu Thanh làm Đại diện trưởng.

Sau đó, chỉ huy Căng đem lính tiếp tục vào tra hỏi: “Ai là đại diện trưởng hiện nay?”. Đồng chí Thu đứng lên nói: “Tôi!”. Lập tức, tên chỉ huy Căng ra lệnh cho lính đâm lưỡi lê vào chân đồng chí, anh em phản đối hắn và đưa đồng chí Thu vào bệnh xá băng bó.

Ngày 17-1-1954, Đảng ủy Căng tiếp tục tổ chức cuộc vượt ngục với quy mô khá lớn[9]. Theo kế hoạch đã được chuẩn bị từ trước, anh em yêu cầu cho nhà bếp tổ chức đi lấy củi trong rừng về đun nấu và đã tổ chức vượt ngục. Lúc đầu Đảng ủy Căng đề nghị để anh Vững (tức Nguyễn Huy Cương, quê huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương), Phó Ban Đại diện Căng B ra nhưng anh đã từ chối và đề nghị để anh An - Bí thư Đảng ủy ra, vì xét anh An có nhiều thuận lợi hơn trong việc báo cáo với Trung ương về trại giam này, để Trung ương có kế hoạch đối phó, đồng thời cũng là gặp ngay địa phương Phú Quốc bàn chủ trương trong đánh ra, ngoài đánh vào của trại giam. Vì vậy, anh Vũng đã ở lại trại[10]. Kế hoạch của Đảng ủy Căng là: giao cho đồng chí Thiệp làm Chỉ huy trưởng Đoàn vượt ngục, đồng chí Vũ Lăng làm Chỉ huy phó; Đoàn đi lấy củi được bố trí gồm tất cả 25 người cũng là những người được đưa vào danh sách vượt ngục; dự kiến địch có 8 lính gác đi kèm nên kế hoạch hành động cứ 3 người tấn công 1 lính gác cướp súng chạy vào rừng, hạn chế tối đa việc nổ súng để tránh ảnh hưởng đến công tác binh vận và để những người ở lại đỡ bị khủng bố, trả thù.

Nhưng ngày hôm đó địch chỉ cho 20 người đi, trong đó có một người không thuộc danh sách chọn (anh này là một quần chúng tốt). Ngoài ra, địa điểm lấy củi cũng có thay đổi, xa rừng hơn những lần trước. Vì vậy, Đoàn vượt ngục phải thay đổi kế hoạch ban đầu “3 tù đánh 1 lính gác phải đổi lại - 2 tù đánh 1 lính gác”. Các anh cùng nhau phân tích lợi thế của địa điểm và quyết tâm vượt ngục.

Lúc đầu, mọi người vẫn vừa lấy củi vừa quan sát địa hình và trao đổi với lính gác như không có chuyện gì xảy ra. Đến gần 10 giờ, anh Thiệp, Đoàn trưởng bảo anh em bó củi vào rồi cho anh em nghỉ để chuẩn bị vác củi về. Đội hình được sắp xếp bí mật, cứ 2 - 3 người 1 lính gác, anh em vừa nói chuyện, vừa hút thuốc với lính gác làm cho chúng mất cảnh giác. Khi ám hiệu của Đoàn trưởng (cũng được chuẩn bị từ trước) phát ra: “Ta chuẩn bị về chứ anh em?”, lập tức anh em đứng dậy, tiếp theo một người trong đoàn hô to: “Tẩu!”. Thế là tất cả anh em nhanh chóng cướp súng chạy vào rừng theo kế hoạch. Nhưng vì sự việc diễn ra quá nhanh nên ta đã sơ suất không phát hiện ra còn có một tên lính người Khmer đang ngồi trong bụi rậm. Hắn đã nổ súng bắn báo động.

Đoàn vượt ngục phân tán và lạc nhau mỗi người chạy một hướng. Sau nhiều ngày gian khổ, đến ngày 20-1-1954, 16 người vượt ngục thoát đã gặp nhau ở nhà má Tám, một cơ sở cách mạng của ta, còn 4 người không có tin tức, gồm: anh Thiệp (nguyên Huyện đội phó Liên Nam, Hà Đông), Chỉ huy trưởng Đoàn vượt ngục; anh Diệp (Phúc, nguyên Phó Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Ninh), Đảng ủy viên Căng Cây Dừa, bị lạc đoàn và bị bắt ngay trong ngày vượt ngục, bị địch tra tấn dã man cho đến chết; anh Phạm Trung Ngà, nguyên Bí thư Đoàn Thanh niên xã Trường Thành, Thanh Hà (Hải Dương), bị địch bắt; và một anh (không rõ tên) nguyên là cán bộ tiểu đội, bộ đội Bắc Ninh.

Mặc dù có tổn thất nhưng cuộc vượt ngục đã thành công, 16 đồng chí được giải thoát, trong đó có một số là cán bộ cốt cán của Đảng như các đồng chí: Nguyễn Đức Dụ (Lê Viên) nguyên Tỉnh ủy viên tỉnh Kiến Tường; Phú, Phó Ban Tỉnh ủy Bắc Ninh; Hoan, Huyện ủy viên huyện Ninh Giang, Hải Dương; Thái, Phái viên Huyện ủy Gia Lâm, Hà Nội. Ngoài ra, trong đoàn vượt ngục có hai phần ba là cán bộ quân sự, một số giữ chức vụ cán bộ trung đội, tiểu đội. Đoàn vượt ngục cướp được 8 khẩu súng của lính gác nhưng khi địch truy sát, bị thất lạc nhau, súng bị mất nên khi về đến căn cứ chỉ còn 2 khẩu, giao cho Huyện đội Phú Quốc.

Đồng chí Nguyễn Văn (tức Văn Tân), tổng kết thành tích vượt ngục của giai đoạn này như sau[11]:

Suốt thời kỳ thực dân Pháp thành lập trại giam đến ngày có lệnh đình chiến "Anh em tù binh tổ chức vượt ngục ra làm nhiều đợt, cho đến ngày có lệnh đình chiến là 327 người, trong số này có nhiều cán bộ chủ chốt của tỉnh, huyện, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn... Số anh em vượt ra có trên hai tiểu đội nhập vào bộ đội huyện Phú Quốc, một số tham gia vào ban, ngành xung quanh huyện, một số công tác ở Ban Chỉ huy Huyện đội, một số làm giáo viên cấp I ở ba xã. Còn số đông được đưa về đất liền, lại tiếp tục vào bộ đội, hay làm công tác ở các ban, ngành giúp bạn Campuchia, hoặc về tỉnh Long Châu Hà, cũng có đồng chí công tác ở tổ chức Trung ương Cục miền Nam. Trong số đó có 4 đồng chí hy sinh.

Số anh em tham gia vào bộ đội huyện dưới sự lãnh đạo của Ban Chỉ huy Huyện đội đã lập được nhiều chiến công xuất sắc: trận ngày 23-10-1953 tại dốc đá Cây Cẩy tiêu diệt và bắt sống hai tiểu đội địch, thu toàn bộ vũ khí (một chiến sĩ vượt ngục ra là Phùng Văn Tác đã hy sinh trong trận này).

Trận thứ hai, anh em bộ đội đi xay lúa ở xã Cửa Cạn, có chỉ điểm vây kín nhà, một mình đồng chí Diện với khẩu súng tôm-xon chiến đấu đến cùng, địch phải bắn đạn lửa vào đốt ngôi nhà này. Đồng chí Diện đã hy sinh, đồng chí Thắng bị bắn trọng thương.

Trận thứ ba ngày 1-6-1954, anh em phục kích cạnh trường bay Dương Đông bị lộ, địch bắt gọn một tổ 3 đồng chí Hồng, Nhấm và Dực (là du kích Cửa Cạn)[12].


[1] Huy Ninh, Phú Quốc - Sóng dội Hòn Dừa, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Hưng, 1991, tr. 47. [2] Kiên trung bất khuất, tập 1, Nxb. Hà Nội, 2005, tr. 277 (Nguyễn Văn, Căng tù binh Cây Dừa) [3] Kiên trung bất khuất, tập 1, Nxb. Hà Nội, 2005, tr. 278 - 280 (Nguyễn Văn, Căng tù binh Cây Dừa) [4] Đồng chí Nguyễn Quang Thấu, nguyên là Trung đội trưởng Bộ đội Bắc Ninh, bị thực dân Pháp bắt giam vào Căng Đoạn Xá (Hải Phòng) và bị đày ra Phú Quốc [5] Huy Ninh, Phú Quốc - Sóng dội Hòn Dừa, Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao tỉnh Kiên Giang, 1993, tr. 59 - 63 [6] Huy Ninh, Phú Quốc - Sóng dội Hòn Dừa, 1993, Sđd, tr. 54 [7] Huy Ninh, Phú Quốc - Sóng dội Hòn Dừa, 1993, Sđd, tr. 65 [8] Đồng chí Thu nguyên là Ủy viên Thư ký của Ủy ban Kháng chiến Hành chính huyện Liên Nam, Hà Đông. [9] Theo đồng chí Nguyễn Đức Dụ, Trưởng Ban Liên lạc Tù binh Phú Quốc, tỉnh Hải Hưng [10] Vũ Lăng, Bão chuyển, Nxb. Mũi Cà Mau, 2009, tr. 25. [11] Kỷ yếu Hội thảo Trại giam tù binh Phú Quốc, Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao tỉnh Kiên Giang, 1995, tr. 42-43 [12] Đồng chí Nhấm và Hồng, quê ở Hải Dương còn đồng chí Dực là du kích xã Cửa Cạn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn