Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐÊM ẤY, KHÔNG MAY ANH BỊ SA VÀO TAY GIẶC

Trong hồi ức “Cuộc chiến đấu tự nguyện” (NXB Hội Nhà văn, 2007), tác giả kể lại đêm 4 rạng 5/11/1971 khi Tiểu đoàn Công binh Sư đoàn 3 Sao Vàng vượt Đường 19 và rơi vào ổ phục kích, tổn thất nặng. Đồng chí Phan Văn Bảy, Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn 12, bị bắt trong đêm ấy. Năm 2006, sau 36 năm, tác giả lần tìm và gặp lại anh tại Quy Nhơn (Bình Định). Anh kể: rạng sáng 5/11/1971, sau khi vượt sông Côn an toàn, đơn vị bị địch phục kích; anh bị thương nặng và sa vào tay giặc. Để giữ bí mật, anh

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong cuốn hồi ức mang tựa đề “cuộc chiến đấu tự nguyện” – Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, năm 2007, trang 173, tôi có viết về cuộc vượt đường của Tiểu đoàn Công binh Sư đoàn 3 Sao Vàng, từ phía Bắc đường 19 sang phía Nam, đêm 4 rạng 5/11 năm 1971. Đêm đó đội hình vượt đường của ta bị lọt vào ổ phục kích của địch, bị tổn thất nặng nề. Đồng chí Phan Văn Bảy, Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn 12 bị sa vào tay giặc. Đã 36 năm trôi qua, những gì đã xảy ra trong đêm kinh hoàng đó thì vẫn còn đọng mãi trong ký úc của những người đang sống.

Từ khi đồng chí Phan Văn Bảy bị địch bắt và sau này được trao trả, chúng tôi chưa gặp lại đồng chí lần nào. Để được biết rõ hơn những diễn biến cụ thể trong đêm vượt đường đó và cuộc sống của đồng chí từ ngày bị sa vào tay giặc, là một cán bộ tham mưu đã từng trải, có thể đồng chí sẽ nắm được những tình hình của phía bên kia, tôi quyết đi tìm đồng chí.

Bằng cách nào để biết được nơi cư ngụ của đồng chí? Đã 36 năm rồi, có biết bao thay đổi trong từng gia đình và toàn xã hội. Trong những năm 60 – 70, tôi cũng chưa tiếp xúc với anh lần nào. Bởi vì giữa chúng tôi, mỗi người một cương vị. Trong chiến tranh thông thường cương vị khác nhau, thì môi trường công tác cũng khác nhau. Lúc đó, tôi la một cán bộ phân đội, trực tiếp chiến đấu phía trước; đồng chí là một cán bộ tham mưu ở cơ quan Trung đoàn. Một năm, có họp hành với nhau 1 – 2 lần. Có khi đồng chí biết tôi, nhưng tôi lại chưa biết đồng chí. Đồng chí rời xa đơn vị từ ngày ấy, việc tìm lại càng như “mò kim đáy biển”.

Sự đời không ai biết được chữ ngờ. Tháng 11-2006, trong một chuyến đi ra phía Bắc, sang Bắc Ninh tìm đồng đội, tình cờ tôi gặp lại đồng chí Lê Văn Tuất. Qua đó tôi đã biết được đồng chí Phan Văn Bảy đang sống ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Nơi mà một tuần trước đó, tôi đã lưu lại một ngày.

Tuất là em rể của anh Phan Văn Bảy. Song cái địa chỉ mà Tuất cho tôi biết, không đúng, tuy nhiên anh Bảy đang ở thành phố Quy Nhơn là hoàn toàn chính xác.

Ban liên lạc Hội Cựu chiến binh Sư đoàn 3 Sao Vàng tại tỉnh Bình Định thường xuyên duy trì chế độ sinh hoạt. Hàng năm đều có tổ chức gặp mặt. Đó là nguyên nhân đưa tôi đến gặp trực tiếp đồng chi Phan Văn Bảy, trước hết bằng điện thoại và sau đó liên lạc với nhau bằng thư từ.

Mục đích của việc tìm đồng chí, đồng đội trong những năm chiến tranh khốc liệt ở chiến trường khu 5, anh là nhân chứng sống còn lại trong đêm vượt đường 19 của Tiểu đoàn công binh.

Tôi muốn biết tất cả những chi tiết trong đêm hôm đó xảy ra cho tiểu đoàn công binh và cho cả đồng chí Phan Văn Bảy.

Hiện nay anh đang sống tại: Số 39C, đường Hai Bà Trưng, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định – ĐT: 056.829074. Anh Phan Văn Bảy cho biết: vào khoảng trung tuần tháng 9 năm 1971, có cuộc họp Đảng uỷ Sư đoàn 3 mở rộng. Sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968, để chuẩn bị cho chiến dịch Xuân năm 1972, theo chỉ thị của Quân khu 5, sư đoàn xốc lại đội hình, tổ chức lại thành sư đoàn đủ để làm nhiệm vụ.

Lúc đó đồng chí là phó ban tác chiến sư đoàn, được đồng chí Nguyễn Nam Khánh và Chu Huy Mân (1) giao nhiệm vụ về trung đoàn 12 làm trung đoàn phó, sang phía Nam đường 19 trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn 6 của trung đoàn 12 và tiểu đoàn 19, không cho quân dịch từ Quy Nhơn và vùng đồng bằng miền Trung tăng viện lên Tây Nguyên trong thời gian quy định. Sau khi nhận nhiệm vụ cụ thể, được về trung đoàn 12, anh mừng lắm, vì trước đây anh cũng đã công tác một thời gian ở trung đoàn này. Sau khi dự cuộc họp với Ban chỉ huy trung đoàn, ngày 2-11, anh xuống Bình Khê dự họp với huyện uỷ và Uỷ ban nhân dân huyện vào ngày 3-11, bàn công tác phối hợp hoạt động trong thời gian sắp tới. Sau đó anh đi cùng với tiểu đoàn công binh sang phía Nam đường 19. Việc bảo đảm hành lang do tiểu đoàn 6 đảm nhiệm.

Khoảng 2 giờ sáng ngày 5-11-1971, toàn bộ đội hình đã vượt sông Côn, qua đường 19 an toàn. Khoảng 5 giờ sáng gần vào đến bìa rừng thì bất ngờ bị địch phục kích, nổ súng. Anh đi trước đội hình và bị thương ngay loạt đạn đầu. Ở phía sau anh cũng có nhiều đồng chí bị hy sinh, bị thương.

Vì bị thương nặng, sợ không qua khỏi được, anh đã đưa tất cả tài liệu cho đồng chí liên lạc, hẹn với nhau nếu thoát được, sẽ về hang đá trong núi lấy lại. Sau đó anh leo được một đoạn và ngất đi do mất máu nhiều. Sau khi tỉnh dậy, anh biết mình đã bị sa vào tay giặc. Trong những ngày sau đó, kẻ thù đã dùng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ, mua chuộc đến tra tấn tàn bạo nhất, kể cả dùng những đòn tâm lý để anh khai sự thật. Bọn tình báo của sư đoàn 22, quân đội Sài Gòn đến bọn Mỹ, bọn Đại Hàn thay nhau hỏi cung. Được sự giúp đỡ, chỉ vẽ của một số anh chị em bị bắt trước đó về kinh nghiệm trong việc khai báo, rằng trước khai như thế nào, về sau đều khai như vậy, nếu không chúng sẽ hỏi cung suốt và sẽ bị tra tấn đánh đập, anh đã khai là giao liên của xã, theo quân giải phóng sang phía Nam đường 19 để lấy tài liệu. Chúng nó không tin, vì diện mạo của anh trông phương phi (chúng tôi thường gọi anh là Bảy râu). Một điều nguy hiểm hơn là trong đội ngũ của ta lúc đó, có một số người không chịu nổi cảnh thiếu thốn, ác liệt đã đầu hàng giặc hoặc về “chiêu hồi”…Mỗi lần những tên này xuất hiện, bị anh chị em tù chửi bới, doạ đánh chết, nên bọn địch đã chuyển chúng đi nơi khác.

Sau 5 ngày bị tra khảo, đánh đập, kẻ thù đã để lại trên người anh những di chứng và bệnh tật. Do sự khôn khéo trong lời khai và nhờ sự đùm bọc, chở che của anh chị em từ ở trại giam Quy Nhơn, anh đã giấu được tung tích, một cán bộ trung đoàn. Tuy nhiên, địch vẫn nghi anh ít nhất cũng là một chỉ huy tiểu đoàn hay bí thư huyện. Vì lẽ đó mà anh bị chúng tra tấn khủng khiếp.

Chúng không khai thác được gì thêm, ngoài những nội dung sau:

Họ và tên: Ngô Văn Hiền.

Quê quán: Phổ Cường, Đức Phổ, Quảng Ngãi.

Năm 1954, do quê nghèo vào Bình Định làm ăn và lập gia đình tại Bình Khê. Khi giải phóng về, họ bảo làm liên lạc cho họ. Tôi là dân dưới quyền của họ thì phải làm theo!...

Trong thời gian dài bị bắt, anh đã trải qua 3 trại giam của địch là Quy Nhớn, Phú Tài, Phú Quốc. Ở trong nhà tù của địch, các anh vẫn nêu cao khí tiết của người cách mạng, như không chịu chào cờ “Ba que”, không chịu chào quân cảnh. Vì vậy mà anh đã bị xếp vào loại tù binh có máu mặt cùng với anh La Văn Hậu (trung đoàn 22), Nguyễn Mai (trung đoàn 2), Nguyễn Tâm (tỉnh đội trưởng Khánh Hoà).

Anh kể tiếp:

Khoảng tháng 2, 3 năm 1972 quân ta tiến đánh các mục tiêu quận Hoài Ân, Phù Mỹ, Bồng Sơn thuộc tỉnh Bình Định, địch chuyển trại tù binh nữ vào Cần Thơ, sau đó ra Phú Quốc. Anh cũng bị chuyển ra đảo Phú Quốc luôn. Chúng đưa anh qua khu KD9, là nơi giam giữ toàn tù binh bị thương nặng. Địch thường gọi là khu “tàn phế”. Đến đây, anh đã được gặp lại một số anh em quen biết và cùng hoạt động với nhau ở tỉnh Quảng Ngãi và nhận nhau là đồng hương. Anh được bầu vào ban lãnh đạo Đảng uỷ (tất nhiên là hoạt động bí mật trong tù). Tưởng là yên ổn để chờ dịp trở về với đồng đội thì một tình huống rắc rối đã xảy ra: Số là trong trại KD9 có đồng chí Hạnh là chiến sĩ trinh sát của D4 bị bắt vào đây. Gặp anh, mừng quá nên Hạnh đã nói: “Đó là thủ trưởng trung đoàn tôi, chứ không phải là giao liên đâu!”. Bọn địch nghe được, anh phải chống chọi mấy tháng trời, chết đi sống lại dưới bàn tay tàn bạo của kẻ thù. Nhưng rồi cũng qua đi. Sau này Hạnh rất ân hận về sự nông nổi của mình… Từ đó anh vẫn mang cái tên Ngô Văn Hiền, sinh hoạt đồng hương với số anh em quê Quảng Ngãi. Ngoài tổ chức chi bộ, chi đoàn, còn có hội đồng hương để quản lý nhau và giúp nhau giữ trọn khí tiết của một quân nhân trong nhà tù của địch. Khoảng tháng 3 – 1973, anh nằm trong số anh chị em được trao trả tại Lộc Ninh.

Gặp lại anh, có nhiều người hỏi: “Cái gì tạo cho anh sức mạn để vượt qua những thử thách trong nhà tù đế quốc?”. Anh trả lời: “Trong quân đội có 10 lời thề danh dự, trong đó có ý: khi ra trận mạc quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước. Nếu bị quân địch bắt, dù phải chịu cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng, không bao giờ phản bội, cung khai…”. Đó là danh dự của người quân nhân cách mạng.

Để chứng minh lòng trung thành với Đảng, anh cho biết: “Khi được về lại với đồng đội, quân khu 5 đã công nhận thời gian liên tục của tuổi Đảng, tuổi quân và tặng huân chương chiến công hạng Ba, vì có thành tích giữ bí mật của Đảng, của quân đội trong thời gian bị địch cầm tù.”. Sau đó anh được thăng quân hàm trung tá và được giải quyết chính sách hưu trí.

Về tỉnh Bình Định, nơi anh đã sống và chiến đấu, hiện còn nhiều anh chị em cứ gọi: “Chú Hiền ơi! Về Quảng Ngãi mà ở, sao lại ở Quy Nhơn!”… Mặc dù tên anh là Phan Văn Bảy, được sinh ra ở xã Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định - Họ đã có ý nhắc lại những gì anh khai với địch trước đây. Qua câu chuyện về anh, tôi bồi hồi nhớ lại cái đêm kinh hoàng đó; Cái đêm mà tiểu đoàn tôi vượt qua đường 19 đã bị tổn thất nặng nề. Đêm đó, may mắn tôi thoát chết, còn anh thì bị sa vào tay giặc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn