Đêm qua cầu Lò Gốm
Đêm qua cầu Lò Gốm
Đêm Sài Gòn tháng 6 năm 1968, trời tối đặc như mực. Cơn mưa lớn ban chiều để lại những vũng nước dài loang ánh đèn vàng yếu ớt từ vài ngôi nhà còn le lói ánh sáng. Ở khu vực cầu Lò Gốm, nơi đầu mối giao thông quan trọng nối liền quận 6 và Chợ Lớn, tiếng xe quân cảnh Mỹ vẫn rền rĩ như những con thú sắt rình mò trong đêm. Nhưng trên các mái nhà lợp tôn gỉ, trên những con hẻm đầy rác và mùi bùn, có những bóng người âm thầm len lỏi, mang trong tim lửa đỏ niềm tin giải phóng.
Người dân nơi đây thường kháo nhau về một nhóm giao liên bí mật, toàn những người trẻ mới ngoài đôi mươi nhưng gan góc như những chiến binh dạn dày. Họ có nhiệm vụ đưa thư, vận chuyển tài liệu, thuốc men, thậm chí cả vũ khí nhẹ vào vùng nội đô ngay dưới mắt quân Mỹ – Ngụy. Trong số ấy có Hạnh, cô gái bán bánh cam ở chợ Bình Tây, nổi tiếng dịu dàng nhưng ít ai biết rằng dưới lớp áo bà ba bình dị ấy là một chiến sĩ giao liên thuộc Biệt động Sài Gòn.
Đêm đó, Hạnh nhận một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng: đưa mảnh bản đồ vị trí đóng quân mới của quân Mỹ từ căn cứ Tân Sơn Nhất về cơ sở ở quận 5. Mảnh bản đồ ấy do đồng đội cô đánh đổi bằng cả tính mạng; nếu lọt vào tay địch, hàng chục cơ sở nội thành sẽ bị xóa sổ. Cô đón lấy mảnh giấy được gói trong lớp ny-lông mỏng, giấu vào bên trong dây áo, sát ngay trên ngực – nơi ít ai có thể lục soát.
Hạnh lên đường khi đồng hồ điểm 23 giờ. Gió đêm thổi lạnh len vào từng sợi áo, nhưng mồ hôi vẫn ướt đôi bàn tay nắm chặt chiếc thúng đựng vài ổ bánh cam làm vỏ bọc. Cô phải vượt qua cầu Lò Gốm – nơi địch đặt chốt kiểm soát gắt gao nhất khu Chợ Lớn. Ba tuần trước, đã có hai cơ sở bị bắt ở đây. Hạnh biết, dù chỉ lộ một ánh nhìn khác lạ, cô cũng có thể bị lôi vào bóng tối mà không ai hay biết.
Từ xa, ánh đèn pin quét qua mặt cầu. Hai tên lính Mỹ đứng gác, một tên ngậm điếu thuốc, thỉnh thoảng nhả khói thành những vòng trắng. Chúng bắt mọi người dừng lại để kiểm tra giấy tờ. Sau lưng Hạnh là vài người dân đang tất tả gánh hàng đêm. Cô bước hòa vào dòng người, giữ nhịp thở đều, mắt cúi xuống như một cô gái bán hàng hiền lành, sợ sệt trước lính ngoại quốc.
Khi chỉ còn cách lính gác vài bước, tên lính Mỹ chợt chặn cô lại. Hắn chỉ vào thúng bánh, nói bằng giọng tiếng Việt bập bõm:
– Bánh… mở ra!
Hạnh thoáng khựng lại trong một giây. Cô hiểu nếu hắn lục kỹ hơn, chạm vào người cô, mọi thứ sẽ tan thành tro. Bỗng phía sau vang lên tiếng nói của một bà lão bán hàng rong:
– Trời ơi! Bánh của con bé này nè lính, tui mới mua rồi! Có gì đâu mà mở!
Không đợi lính phản ứng, bà lão dúi vào tay hắn hai cái bánh cam nóng hổi. Hắn cười ha hả, đưa tay nhận chiếc bánh rồi phất tay cho Hạnh đi. Cô thoát qua chốt gác, trái tim đập như trống.
Đến cuối cầu, Hạnh quay lại nhìn. Bà lão khi nãy – bà Cúc, cơ sở mật lâu năm – chỉ khẽ gật đầu. Ánh mắt bà hiền nhưng sâu như đọc được tất cả. Hạnh dợm bước định quay lại cảm ơn, nhưng bà đã lẫn vào bóng đêm.
Đi thêm vài trăm mét nữa, cô rẽ vào con hẻm nhỏ. Cửa hàng may đêm của chú Năm Phương là điểm hẹn. Nhưng hôm nay cửa đóng im lìm, không một khe sáng. Điều này bất thường. Hạnh đứng nép vào tường nghe ngóng. Thình lình tiếng giày đinh vang lên phía đầu hẻm. Cô lập tức lùi lại sau thùng rác, tim như bị bóp nghẹt.
Một toán lính cảnh sát dã chiến ào đến, súng lăm lăm. Chúng đạp tung cửa hàng may. Tiếng đồ đạc đổ vỡ vang lên. Hạnh hiểu: cơ sở đã bị lộ. Nếu cô tiến vào, chỉ là tự nộp mạng.
Cô phải nhanh chóng tìm điểm liên lạc khác. Hạnh lao băng qua những con hẻm như mê cung của Chợ Lớn, tránh những nơi có ánh đèn xe Jeep. Khi cô chạy đến gần bờ kênh Tàu Hủ, một bóng người xuất hiện từ cửa sau của tiệm thuốc bắc. Ánh trăng mờ soi lên khuôn mặt gầy nhưng ánh mắt rắn rỏi: anh Tư Bình, cán bộ khu ủy.
– Em theo anh! – anh nói khẽ.
Hạnh trao ngay mảnh bản đồ. Anh Tư xé đôi gói ny-lông, nhìn qua chỉ hai giây rồi gật đầu.
– Em giỏi lắm. Tối nay nếu không có em… cả khu sẽ nguy.
Nhưng họ chưa kịp rời đi thì tiếng còi báo động vang lên. Địch đã phát hiện ra tín hiệu từ gián điệp của chúng. Một loạt đạn nổ ra, tia lửa dài rạch ngang bóng đêm. Anh Tư kéo Hạnh ngã xuống mé kênh. Hai người lăn xuống mặt nước lạnh buốt. Họ men theo mé bờ, dò dẫm trong dòng nước đen ngòm, mùi rác sinh hoạt hăng nồng khó chịu.
Trên bờ, địch đã đốt đuốc, tiếng quát tháo ầm ầm. Nhưng nước kênh Tàu Hủ đã che chở những người chiến sĩ nhỏ bé. Khi bơi đến được gầm cầu chữ Y, họ mới dám ngoi lên thở.
Trời gần sáng khi Hạnh trở về căn nhà trọ nhỏ của cô. Áo bà ba rách toạc, tóc rối bời, nhưng ánh mắt cô sáng hơn bao giờ hết. Mảnh bản đồ đã đến tay khu ủy an toàn. Những đợt tiến công sau đó của ta tại Sài Gòn đều nhờ vào thông tin ấy.
Tối hôm ấy, Hạnh lại ngồi nắn bánh cam như mọi ngày, hương đường cháy, hương cam thoảng qua trong bếp nghèo. Nhưng trong lòng cô, lửa của "thời hoa lửa" vẫn cháy âm ỉ – thứ lửa của niềm tin, của lòng người Sài Gòn trong những tháng ngày không thể nào quên.



