Khác

Đêm Trường Sơn năm 1968 mịt mù sương muối

Quảng Ninh12/08/2026Xã Hùng Lợi (Đoàn xã Hùng Lợi)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đêm Trường Sơn năm 1968 mịt mù sương muối. Nhớ lại những ngày đầu rời làng bước vào chiến trường, ông Tráng – khi ấy mới là gã thanh niên mười chín tuổi côi cút, tay nải trút nhẹ lên vai – chỉ nghĩ đơn giản: "Đất nước có giặc thì đi, làm xong cái việc của làng của nước rồi về cày tiếp thửa ruộng sau nhà."

Ông Tráng làm chiến sĩ trinh sát thuộc Trung đoàn 9. Cái tên "Chiến Tờ" người ta đặt cho ông cũng từ trận đánh ở đèo Lò Lo mà ra. Lần đó, đại đội ông bị pháo đài bay B-52 cày nát từng mảng xám xịt. Khói bom chưa tan, trực升 cơ Mỹ đã treo lơ lửng trên không, đổ từng toán lính dù xuống để hốt gọn trận địa. Trạng thái ác liệt lên đến đỉnh điểm khi đơn vị hy sinh gần hết, khẩu trung liên của tiểu đội trưởng gãy đôi, ông Tráng là người duy nhất còn gạt được lớp đất đá phủ kín người để đứng dậy.

Một tay ôm vát chiếc AK-47 đã trầy xước sơn, tay kia xách hai quả lựu đạn chày, ông Tráng không rút về tuyến sau. Ông bò sang từng hầm pháo, dùng chiếc còi đồng cũ kỹ thổi vè vè giả làm tín hiệu gọi quân phản công của ta, rồi ném lựu đạn phân tán lực lượng địch. Cả một buổi chiều tà, một mình ông Tráng cù cưa, vây ráp và kìm chân cả một trung đội lính Mỹ trên triền đồi cằn cỗi. Khi đại đội viện binh của ta lên tới nơi, họ thấy gã tân binh ngơ ngác ngồi giữa đống vỏ đạn đồng, trên ngực áo gài ghim một tờ giấy nhỏ ghi nguệch ngoạc bằng than: "Tọa độ đồi 402, còn 1 người, xin thêm đạn." Từ đó, cái tên "ông Tráng Chiến Tờ" ra đời như một huyền thoại sống của trung đoàn.

Chiến tranh qua đi, ông Tráng trở về làng với tấm lưng hằn sâu vết sẹo do mảnh bom Napalm và một bên tai không còn nghe rõ. Ông không nhận trợ cấp đặc biệt, cũng chẳng mấy khi kể về những trận đánh thây chất thành núi. Ông lại quay về với gánh cán xẻng, lại lặng lẽ cày nới thửa ruộng năm xưa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn