Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẾN TÂY NGUYÊN

Tây Nguyên là vùng cao nguyên rộng khoảng 67.000 km², gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng; có địa hình cao, nhiều cao nguyên nối tiếp, đất đỏ bazan màu mỡ, nhiều sông lớn như Sê San, Sêrêpốk và Sông Ba. Trong kháng chiến chống Mỹ, Tây Nguyên thuộc Khu 5, là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng, giữ thế cao khống chế miền Trung và Đông Dương, được ví như “mái nhà Đông Dương”. Nhờ địa hình rừng núi hiểm trở, hệ thống đường chiến lược như Đường Trường Sơn, cùng truyền th

Lai Châu02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tây Nguyên là địa danh chỉ miền núi và cao nguyên phía tây Trung Bộ chạy dài từ vĩ tuyến 15 xuống đến vĩ tuyến 11: Bắc giáp tỉnh Quảng Nam; nam giáp tỉnh Bình Phước miền Đông Nam Bộ; đông giáp các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ; tây giáp nước Lào và Campuchia, với một biên giới chung dài khoảng 700 km.

Tây Nguyên rộng khoảng 67.000 km2 (phần Tây Nguyên thuộc Khu 5 có khoảng 35.962km2) gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Lâm Đồng, Tuyên Đức và Quảng Đức (nay là Kon Tum - Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng).

Đó là nói về mặt địa lý. Nhưng trong kháng chiến chống Mỹ, Tây Nguyên là một bộ phận của Khu 5. Kể từ năm 1964, để tiện cho việc chỉ huy tác chiến, Bộ Tư lệnh Khu 5 còn thành lập Mặt trận Tây Nguyên - gọi tắt là B3, bao gồm: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc - Phú Bổn, còn Lâm Đồng, Tuyên Đức, Quảng Đức thuộc Khu 6. Số dân ở Tây Nguyên có khoảng gần 1 triệu người gồm hơn 30 dân tộc anh em, đông dân hơn cả là các dân tộc Xê Đăng, Dẻ, Cơ Giông (Kon Tum); Gia Rai, Ba Na (Gia Lai); Ê Đê, MơNông (Đắc Lắc), Cờ Ho (Lâm Đồng). Các dân tộc đều có tiếng nói riêng và một số dân tộc có chữ viết theo các hệ ngôn ngữ Môn Khơ me, Malaia.

Địa hình Tây Nguyên được hình thành bởi năm cao nguyên nối tiếp nhau từ Bắc vào Nam; phía bắc là cao nguyên Kon Tum, độ cao trung bình trên 1000m với các dãy núi cao trùng điệp, có các đỉnh cao như Ngọc Linh 2598m, Ngọc Niay 2259m, Ngọc Krinh 2025m và thấp dần cho tới bắc tỉnh Gia Lai, chỉ còn một số dãy núi cao trên dưới 1500m. Tỉnh Kon Tum Gia Lai nằm trong cao nguyên này.

Tiếp đến là cao nguyên Đắc Lak có độ cao thấp hơn, trung bình dưới 1000m, địa hình tương đối bằng phẳng, không có ngọn núi cao nào đáng kể. Phần bình nguyên ở phía nam cao nguyên này là thị xã Buôn Ma Thuột củatỉnh Đắc Lắc.Địa hình từ Buôn Ma Thuột về phía nam lại cao dần lên.

Tiếp giáp về phía nam của cao nguyên Đắc Lắc là cao nguyên Lâm Viên và sau đó là cao nguyên Di Linh. Độ cao trung . bình trên 1500m với các dãy núi cao có đỉnh như Chư Yang Sơn 2405m, Chư Yên Du 2075m. Tỉnh Lâm Đồng với thủ phủ Đà Lạt bao gồm hai cao nguyên này.

Tiếp giáp về phía tây nam cao nguyên Đắc Lắc là cao nguyên Mơ Nông có độ cao thấp, trung bình 1000m bao gồm các tỉnh Tuyên Đức, Quảng Đức, nay thuộc tỉnh Đắc Nông. Trên các cao nguyên thường có rừng thưa, phần lớn là rừng khoọc, xen lẫn rừng Le, có các bãi trồng, có bãi rộng tới 1 km2.

Càng về phía nam, phần giữa Tây Nguyên đất tương đối bằng phẳng, song lại có nhiều hồ nước rộng và sâu như ở khu vực Phước An, Lạc Thiện và Biển Hồ ở Plâyku (đặc biệt hồ Lạc Thiện sâu và rộng, là một trong những hồ đẹp nhất ở miền Nam).

Đất đai Tây Nguyên rất màu mỡ, nhìn chung có hai loại đất phong hoá, phong hoá bazan và phong hoá granít. Đất mang màu đỏ gạch mà ta thường gọi là đất đỏ bazan rất thích hợp với việc phát triển cây công nghiệp như: cao su, cà phê, bông, hồ tiêu ...

Tây Nguyên có nhiều sông và suối lớn phát nguyên từ các dãy núi cao, nhưng đáng kể là ba sông chính: Sê San (Pô Cô), Sêrêpốc và sông Ba.

Sông Sê San (Pô Cô) bắt nguồn từ các dòng suối trong dãy núi phía bắc cao nguyên Kon Tum, chảy qua phía tây thị xã Kon Tum sang tới Campuchia rồi đổ vào sông Mêkông đoạn thuộc thị xã STung Treng.

Sông Sêrêpốc bắt nguồn từ các dòng nước suối và hồ lầy nam cao nguyên Đắc Lắc chảy về phía bắc qua Bản Đôn sang thị xã Lom Phát tỉnh Ratanakiri thuộc Campuchia hợp lưu với sông Sê San chảy vào sông Mê Kông.

Sông Ba bắt nguồn từ nam cao nguyên Kon Tum phía đông thị xã Plâyku, chảy qua thị xã Phú Bổn đổ ra Biển Đông ở địa phận thị xã Tuy Hoà (Phú Yên).

Tây Nguyên sớm có một mạng lưới giao thông ngang dọc. Quốc lộ 14 chạy suốt từ Huế qua Kon Tum, Plâyku, Buôn Ma Thuột, nối liền với đường số 13, ở ngã ba Chơn Thành ra quốc lộ 1 vào đến Sài Gòn.

- Quốc lộ số 19 chạy từ Quy Nhơn đến biên giớiCampuchia.

- Quốc lộ số 21 chạy từ Buôn Ma Thuột về Ninh Hoà Khánh Hoà.

- Liên tỉnh lộ số 7 từ Plâyku đi Tuy Hoà (Phú Yên)

Còn có các đường liên tỉnh, giữa các huyện về thị xã. Ngoài ra Tây Nguyên đã hình thành thêm một hành lang đường quân sự chiến lược: trục đường 1b (đường Trường Sơn) nối liền từ Bắc chạy dọc theo phía tây của các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Quảng Đức vào phía nam tới Lộc Ninh (Nam Bộ); một số đường nhánh nối với quốc lộ số 14 và các đường xuyên rừng nằm trên phần phía tây các tỉnh ở Tây Nguyên.

Ở Tây Nguyên, các con đường quốc lộ, tỉnh lộ có vẽ trên bản đồ trong suốt hai cuộc kháng chiến thì thường bị địch chiếm giữ. Chỉ sau năm 1960 kể từ khi ta bắt đầu mở đường Trường Sơn (đường 559) một tuyến đường chiến lược nối liền hậu phương lớn - miền bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, từng tháng, từng ngày vươn tới Tây Nguyên rồi vào miền Đông Nam Bộ thì lúc đó ta mới có một mạng lưới giao thông bí mật xuyên rừng, vượt núi, có những đường hành lang dọc từ Bắc xuống Nam, men theo biên giới Việt Lào, Việt - Campuchia. Có những đường ngang từ Tây sang Đông xuống các tỉnh ven biển miền Trung.

Núi rừng, cao nguyên với đất đai, sông suối, đường sá ở Tây Nguyên còn bị chi phối bởi thời tiết và khí hậu. Hàng năm, ở Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình từ 360 đến 500 ly; giữa mùa mưa có tháng mưa rất to và liên tục làm cho núi lở, sông suối nước lũ chảy xiết trở ngại đến mọi hoạt động, đi lại. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5, gió khô hanh, đất se cứng, thời tiết thuận lợi cho việc lưu thông, nhất là các hoạt động quân sự.

Từ những vùng xung quanh, muốn đến Tây Nguyên phải vượt qua đèo cao, có những rừng cây rậm rạp, thường xuyên mây mù che phủ, càng đi càng gặp nhiều suối sâu vách đứng và đường đèo phức tạp. Song cũng gặp nhiều rừng gỗ quý, nhiều loại cây có quả ăn được, nhiều loại thú rừng quý hiếm.

Người dân Tây Nguyên sống thưa thớt, nhưng các buôn làng thường ở tập trung, sống bằng nông nghiệp và săn bắn với những tập quán cổ truyền nhiều màu sắc. Do hoàn cảnh chiến tranh, nhiêu buôn làng bị đánh phá, hoặc chống lại việc gom dân của địch, nên đồng bào thường ở phân tán vào các khe suối, có khi vài ba nhà ở trong một khe suối nhỏ, đi một nửa ngày đường mới gặp.

Đồng bào Tây Nguyên giàu lòng yêu nước, kiên cường bất khuất, yêu quý buôn làng vốn có truyền thống cách mạng chống giặc ngoại xâm. Trong kháng chiến chống Pháp chúng ta đã từng biết tinh thần cách mạng rất cao của người dân Tây Nguyên như anh hùng Ma Trăng Lơn và anh hùng Núp qua tác phẩm "Đất nước đứng lên” của nhà văn Nguyên Ngọc. Trong kháng chiến chống Mỹ, tinh thần đó lại càng thêm bùng cháy.

Đồng bào luôn một lòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ. Nhiều thanh niên Tây Nguyên đi bộ đội, du kích, các buôn làng đều đóng góp sức người, sức của, lương thực, thực phẩm cho cách mạng và có những anh hùng chiến sĩ thi đua.

Thiên nhiên của Tây Nguyên không chỉ giàu tiềm năng về mặt kinh tế, mà còn tạo nên những đặc điểm nổi bật hình thành một vùng có tầm chiến lược quân sự rất quan trọng đối với đất nước ta và thậm chí đối với toàn Đông Dương.

Tây Nguyên có thế rất cao so với các khu vực tiếp giáp với nó. Từ trên thế cao này, Tây Nguyên có thể khống chế hầu như toàn bộ các khu vực xung quanh. Đây là một thế đứng vô cùng lợi hại. Thêm vào đó, Tây Nguyên có có thế rộng lớn cả về bề rộng, về chiều sâu và sự kín đáo; lại có thế dài liên tục, từng khu vực địa hình có giá trị được núi rừng bao quanh, nhưng lại nối tiếp với nhau, khu vực này có thể hỗ trợ cho khu vực kia, tạo nên một thế liên hoàn vững chắc.

Tây Nguyên vừa có rừng núi, vừa có cao nguyên; có dung lượng chiến trường lớn, có thể tác chiến hợp đồng binh chủng. Có thể nói Tây Nguyên là "mái nhà" của Đông Dương và vì vậy người Pháp khi phát hiện ra Tây Nguyên đã từng đánh giá: "Ai làm chủ Tây Nguyên, sẽ làm chủ Đông Dương ?".

Là một địa bàn chiến lược quân sự hết sức quan trọng như vậy nên cả ta và địch đều hết sức chú ý giành giật với nhau từng tấc đất trên cao nguyên này.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn