Bài viết

DI TÍCH ĐÌNH THẠC GIÁN

Đà Nẵng01/07/2026Chi đoàn 11/10 (Đoàn trường THPT Thanh Khê)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thạc Gián (hay Thạch Giản, Thạc Giản, Thạch Gián) trước kia là một vùng đất rộng lớn, phía Đông giáp làng Hải Châu và thăng đến Vũng Rong. Phía Tây giáp làng Xuân Đán, Phục Đán (nay là phường An Khê và Xuân Hà). Phía Nam giáp làng Bình Thuận và Liên Trì (nay là phường Hoà Thuận). Phía Bắc giáp vịnh Đà Nẵng, bao gồm các phường Thạc Gián, Vĩnh Trung, Tân Chính, Chính Gián, phần đất phía Nam của phường Bình Hiên và Nam Dương, phần đất phía Nam của sân bay Đà Nẵng, thuộc thành phố Đà Nẵng hiện nay. Địa bộ làng Thạc Gián có các xứ và ấp như sau: + Các xứ: - Bàu Làng Xứ (còn gọi là Bàu Hiếu Xứ) là phần phía Bắc của làng Thạc Gián. - Bàu Sen Xứ là phần đất nằm giữa làng Thạc Gián. - Bàu Lác Xứ là phần đất phía Đông của làng Thạc Gián. - Bàu Hạt Xứ là phần giáp với làng Hải Châu. + Các ấp: - Thuận Lập ấp nằm về phía Đông Bắc của làng (nay thuộc phường Thanh Bình). - Tân Định ấp nằm về phía Bắc của làng (nay thuộc phường Tam Thuận). - Núi Cùng ấp nằm về phía Tây của làng (nay thuộc phường Chính Gián). - Trung Hoà ấp nằm về phía Đông của làng (nay thuộc phường Vĩnh Trung). - Tân An ấp nằm ở giữa làng (nay thuộc phường Chính Gián). - Trung Bình ấp nằm ở giữa làng (nay thuộc phường Thạc Gián). Địa danh Thạc Gián đã có từ rất lâu. Trong “Ô châu cận lục” của Dương Văn An viết năm 1555 đã có tên xã Thạc Gián trong mục Đồ bản. “Phủ biên tạp lục” của Lê Quí Đôn cũng liệt kê tên xã Thạc Gián cùng với nhiều tên làng (xã) khác ở Quảng Nam. Khi đó là xã Thạc Giản, tổng Hà Khúc thuộc huyện Hoà Vang, xứ Quảng Nam”. Trong “Đại Nam nhất thống chí” quyển V phần tinh Quảng Nam (bản dịch của Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xương, Trần Xán) có ghi : “Năm Thành Thái 13 (1901) trích thêm các xã thôn Xuân Đán, Thạch Giản, Liên Trì...cộng 13 xã thôn đều thuộc làm nhượng địa”. Trải qua một thời gian khá dài, việc tách nhập, đổi tên xảy ra tuỳ theo từng thời kỳ, nhưng cái tên Thạc Gián vẫn được giữ lại cho đên ngày hôm nay, đây là một trong những địa danh lâu đời của Đà Nẵng. Như hầu hết các làng xã khác ở vùng Quảng Nam - Đà Nẵng, đình Thạc Gián lúc đầu được dựng bằng tranh, tre, nứa, lá là những nguyên vật liệu có sẵn ở quanh vùng. Ngoài ra, việc dựng một ngôi đình có qui mô lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào khả năng tài chính nên trong thời kỳ mới khai canh khai cư chưa thể thực hiện được ngay. Ngoài đình là nơi sinh hoạt chung của cộng đồng cuả dân làng, thì còn có một số miếu cũng được xây dựng rải rác trong các thôn ấp. Làng Thạc Gián có những ngôi miếu sau : + Miếu Bà : được xây dựng ở phía Đông của làng, thuộc ấp Trung Hoà (nay thuộc địa bàn phường Vĩnh Trung). Miếu thờ Thiên Y A Na. Hiện nay miếu vẫn còn nguyên. Hàng năm cúng vào ngày 1 tháng 2 âm lịch. + Miếu Bà : được xây dựng ở phía Tây của làng, cũng thờ Thiên Y A Na. Năm 1965 miếu bị giải toả để xây dựng sân bay Đà Nẵng nên nhân dân đã di dời về ấp Tân Sinh 7 (nay thuộc phường Chính Gián). Ngôi miếu xây lại này nhỏ hơn ngôi miếu cũ. Hàng năm cúng vào ngày 1 tháng 8 âm lịch. + Miếu Bà : được xây dựng ở phía Nam của làng (nay thuộc khối Trung Lập B), cũng thờ Thiên Y A Na. Miếu đã bị phá năm 1977. Hàng năm cúng vào ngày 1 tháng 5 âm lịchế + Miếu Bà : được xây dựng ở giữa làng (nay thuộc khối Tân An A, phường Chính Gián). Miếu cũng thờ Thiên Y A Na. Hiện nay miếu vẫn còn nguyên. Hàng năm cúng vào ngày rằm tháng Giêng âm lịch. + Miếu Nam Hải Ngọc Lân : được xây dựng ở phía Bắc của làng. Trước kia miếu thuộc địa phận ấp Tân Định (nay thuộc phường Tam Thuận). Miếu thờ Nam Hải Ngọc Lân (Nam Hải Cự Tộc) và ThiênY A Na. Nhưng năm Duy Tân thứ 9 (1915), do bị “cù phong đảo hoại” nên ngôi miếu bị sụp đổ. Năm Khải Định nguyên niên (1916) nhân dịp trùng tu đình làng Thạc Gián dân làng đã xây dựng lại ngôi miếu ở phía hữu của đình. Hàng năm cúng vào ngày rằm tháng 11 âm lịch. + Miếu Thổ thần : được xây dựng ở trung tâm làng, thuộc ấp Trung Bình (nay thuộc phường Thạc Gián). Tuy nhiên ngôi miếu này đã bị hư hại vào những năm 1960. Hàng năm cúng vào ngày 1 tháng 12 âm lịch. + Miếu Ông : được xây dựng về phía Tây Bắc của làng. Miếu thờ ông (cá Ông). Ngôi miếu này cũng đã bị hư hại vào những năm 1960. Hàng năm cúng vào ngày rằm tháng 11 âm lịch. + Miếu Thành Hoàng : cũng được xây dựng ở phía Đông của làng (nay thuộc phường Vĩnh Trung). Đây là ngôi miếu do những cư dân đến sinh sống tại vùng đất này vào các thế kỷ 18, 19 và đầu thế kỷ 20 đã xin làng xây dựng vào khoảng những năm 1915 - 1920 để thờ Thành Hoàng nhằm tưởng nhớ ân

đức cùa các tiền nhân làng Thạc Gián đã cho họ được sinh sống tại làng. Hàng năm cúng vào ngày 20 tháng Chạp âm lịch

+ Miếu Âm linh (hay còn gọi là Miếu Thạc Gián xã Nghĩa trủng) : được xây dựng vào năm Thành Thái thứ 19 (1907) tại Nghĩa trủng xã Thạc Gián (cồn Bàu Sen). Năm 1965 bị giải toả nên dân làng đã di dời về xây dựng lại ở phía Tây Bắc của đình. Hàng năm cúng hai lần vào dịp Thanh Minh và rằm tháng 7 âm lịch.

Đình thờ thành hoàng làng và các vị tiền hiền, hậu hiền. Theo truyền khẩu của các dòng họ trong làng thì vị thần nào được phong là Thượng đẳng thần và Trung đẳng thần thì dân làng thờ làm thành hoàng làng. Đây cũng chính là các vị phúc thần của làng Thạc Gián. Trong các vị thần được sắc phong và được dân làng thờ là thành hoàng làng cổ vị tướng quân Nguyễn Phục. Mục Đền chùa trong “Ô châu cận lục” có viết về ông như sau :

Đền Tùng Giang : “Đền ở cửa biển Tư Khách, huyện Tư Vinh, còn một đền ở cửa bể Đà Nẵng tỉnh Quảng Nam. Thần họ Nguyễn tên là Phục, người xã Đoàn Tùng, huyện Gia Phúc. Ông đỗ tấn sĩ năm Quí Dậu, làm chuyên vận sứ, kiêm hành khiển đạo Thanh Hoá. Khi Thánh tông nhà Lê còn là ông hoàng, ông từng làm chức sứ phó dạy vương. Khi ngài lên ngôi vua, ông được thăng làm hàn lâm viện Tham trưởng. Ba lần đi sứ bắc quốc, lúc về nước được cử làm Đại lý tự khanh, giữ việc thẩm lý, những từ tụng trong nước. Rồi chuyển sang chức Hữu tham nghị binh chính viện, lại làm đô chỉ huy sứ thiêm sự ở vệ cẩm y, Thân quân. Hồi vua Lê đi đánh Chiêm thành, ông phụng mệnh làm Phi vận tướng quân Tán lý đội Chuyển thâu. Thuyền đến cửa bể Tư Khách, chợt gặp bão bể, lộ trình rất là nguy hiểm. Mọi người sợ lương chậm thì bị tội, giục ông cho đội thuyền cứ lên đường. Ông nói : “Thà đem tấm thân bé nhỏ chịu hình phạt búa rìu chứ không nỡ đem của nông sản hữu hạn mà để chìm xuống biển, đưa bọn người vô tội mà làm mồi cho cá”. Nói xong mới quyết chí cho neo thuyền lương lại. Vì cớ chậm trễ như thế nên quân lương bị thiếu thốn, vua Lê thấy vận lương sai nhật kỳ, nổi giận sai giam vào ngục. Bọn cung nhân và cận thần nhân dèm với vua xin giết đi. Đến lúc vua sực giác ngộ ra liền tuyên chiếu tha tội cho ông, thì ông đã bị xử tử rồi.

Sau đó thường hiển linh, nên dân địa phương lập đến thờ cúng. Khoảng niên hiệu Cảnh Thống đời vua Lê Hiến Tông (1498 - 1504) được phong tặng là Văn trung chính nghị. Hoàng đế (chỉ vua nhà Mạc) gia phong thêm 4 chữ “Minh đạo hiển ứng".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
DI TÍCH ĐÌNH THẠC GIÁN | Câu chuyện thời hoa lửa