DI TÍCH LĂNG ÔNG NAM HẢI VẠN KIM GIAO
Lăng Ông Nam Hải vạn Kim Giao tọa lạc dưới chân đồi cát ở sát cạnh bờ biển, thuộc xã Hoài Hải, thị xã Hoài Nhơn, cách trung tâm thị xã Hoài Nhơn (phường Bồng Sơn) khoảng 14km về hướng đông. Về tên gọi, theo địa bạ triều Nguyễn, Kim Giao là một trong 108 làng của phủ Hoài Nhơn và trong các sắc phong của các vua nhà Nguyễn đều xác định lăng Ông thuộc thôn Kim Giao, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định nên di tích khi đó có tên Lăng Ông Nam Hải vạn Kim Giao . Lăng Ông này đã nhiều lần đổi tên gọi cho ph
Theo lời kể của các bậc cao niên, lăng ông Nam Hải vạn Kim Giao được tạo lập vào khoảng thế kỷ XIX (trước năm 1852), ban đầu là ngôi thảo am nhỏ bằng mái tranh vách lá đơn sơ để tôn thờ và thực hiện các lễ nghi liên quan đến tín ngưỡng dân gian thờ thần Nam Hải. Trải qua các cuộc chiến tranh xâm lược, lăng Ông tuy bị tàn phá nhiều lần, nhưng vẫn được ngư dân ra sức bảo vệ, chăm sóc, phục dựng. Lăng vạn Kim Giao được triều đình Nguyễn quan tâm, có hơn 9 sắc phong của các vua triều Nguyễn ban cho vạn Kim Giao, chủ yếu là để ca ngợi công ơn và cho phép thờ tự thần Nam Hải, mong thần tiếp tục giúp đỡ cho nhân dân. Ngày 15/01/2022, Lăng vạn Kim Giao đã được UBND tỉnh Bình Định xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
Lăng Ông có hình chữ nhật, hướng chính nhìn ra biển Đông. Bên ngoài nhìn vào, vòm mái lăng Ông có cấu trúc gồm 02 tầng, mỗi tầng 03 gian. Tầng trên: gian chính giữa được trang trí hình cuốn sách, ghi dòng chữ Việt cách điệu “LĂNG ÔNG NAM HẢI VẠN KIM GIAO”, hai bên cột trụ phía trái, phải lần lượt khắc 02 số đối xứng “1852” và “2015” - là năm trùng tu Lăng; hai gian hai bên khắc hình ảnh liên quan đến đời sống tín ngưỡng và quá trình chinh phục thiên nhiên của người dân Kim Giao: gian mái bên trái thể hiện bức tranh thú vật, núi rừng; gian bên phải là bức tranh về thuyền, biển và cá. Tầng dưới là những hoa văn, hình ảnh trang trí trên 04 cột trụ, mỗi trụ khắc chìm câu đối bằng chữ Hán và phiên âm tiếng Việt, đối xứng nhau.
Đôi câu đối ở giữa:
Nam Hải Ngọc Lân thọ sắc phong
Anh linh bảo hộ dân ngư nghiệp.
Đôi câu đối bên cạnh:
Địa thắng thiên thu sa hiểu ảnh
Thần ân vạn cổ hải vô ba.
Cột trụ hai bên viền mái áng ngữ một cặp hình tượng hạc đứng trên lưng rùa được sơn vàng mang ý nghĩa trường tồn, giao thoa giữa đất và trời. Ngoài ra, còn nhiều hình ảnh như bông sen, cây cối được trang trí ở mặt chính Lăng Ông. Vào tiếp không gian bên trong Lăng Ông, Chính điện được lắp ghép theo lối kiến trúc tứ trụ. Bộ mái lợp ngói, mỗi tầng 4 mái, 4 góc mái trang trí 4 con giao long; tầng mái trên thu nhỏ vút cao dạng cổ lầu lợp ngói vảy màu đỏ, đỉnh nóc cổ lầu trang trí hình tượng lưỡng long chầu nguyệt bằng vôi vữa sơn vàng - vừa thể hiện sự uy nghiêm và là biểu tượng cho tâm linh thần phục thánh thần.
Nội thất chính điện có 4 cột trụ ở giữa, mỗi trụ chạm khắc hình 01 con rồng quấn quanh, chia chính điện thành 01 gian 02 chái, ở giữa bài trí tẩm thờ xương cốt ông Nam Hải. Bên trên tẩm xương cốt bài trí 03 khám thờ, khám giữa thờ thần Nam Hải. Trong tín ngưỡng của các làng, vạn chài nói chung, ở Kim Giao – Hoài Hải nói riêng thì cá Voi là đã được thần thánh hóa và tôn thờ là vị Thần của biển cả, Ông Nam Hải, Vị Phúc Thần được ngư dân thờ cúng kính tín với những nghi thức, lễ hội uy nghiêm nhất. Trên bệ thờ là 01 bộ lọng màu vàng, khắc họa nhiều chữ Hán, Nôm, trang trí hình tượng lưỡng long tranh châu, các họa tiết hoa lá, dây leo… trông rất oai nghiêm. Hai khám tả hữu thờ Tiền hiền, là những vị thủy tổ của các dòng họ trong làng, những người có công khai khẩn đất hoang, mở xóm lập làng, khai mở nghề nghiệp, được cộng đồng thừa nhận và tri ân) và Hậu hiền (những người có công tiếp tục khai phá và phát triển làng xã, phát triển ngành ngư nghiệp). Hai khám trang trí các họa tiết như nhau; được bài trí giống nhau.
Lăng ông Nam Hải còn lưu giữ một số hiện vật quý với nhiều loại hình và chất liệu khác nhau. Đặc biệt, Lăng Ông còn lưu giữ 09 bản sắc phong của các vua triều Nguyễn từ thời Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định, phong cho các vị thần đang được người dân Kim Giao thờ tự và cầu mong cho các vị thần che chỡ cho nhân dân, thể hiện sự quan tâm của nhà vua đến đời sống của ngư dân Kim Giao nói riêng và nhân dân ở miền biển nói chung.
Từ khi tạo lập cho đến nay, Lăng Ông Nam Hải vạn Kim Giao đã tiếp nhận và an táng hàng chục Ngài lụy và trôi dạt vào bờ ở khu vực trước Lăng. Sau khi an táng, các Ngài được ngư dân địa phương thực hiện nghi lễ thượng ngọc cốt theo tập tục để đưa vào Lăng thờ phụng. Ngọc cốt Ông có nhiều kích cỡ to nhỏ khác nhau, được chú trọng bảo quản và gìn giữ nguyên vẹn đến ngày nay. Lăng lưu giữ nhiều hiện vật quan trọng để phục vụ trong các kỳ tế lễ: 2 chiếc chiêng được chế tác bằng đồng; 2 chiếc trống đại, ... và trang phục hành lễ của lăng.
Ngoài chính điện, trong khuôn viên di tích còn có võ ca (sân khấu), lăng cô bác, nhà khói, Mộ Lăng Ông. Võ ca nối liền với trung lăng nhưng không che chắn, tạo thành một khoảng sân rộng. Ở cuối võ ca xây 1 sân khấu, đây là nơi diễn xướng chèo bả trạo và hát bội vào các dịp lễ hội hàng năm tại Lăng. Còn phần kiến trúc song song và cách Chính điện 30m về phía bắc là gian thờ cô bác, hướng chính nhìn về phía đông. Theo các vị cao niên trong làng, đây là nơi thờ tự các vị tiền hiền đã có công khai thiên lập địa thôn Kim Giao. Ở về phía bắc liền kề chính điện và trung lăng, hướng chính cũng quay về phía Đông là nhà khói, nơi nấu nướng, chế biến các phẩm vật dâng tế cho ông Nam Hải và các bậc tiền hiền, hậu hiền vào các dịp lễ hội. Đặc biệt, trong khuôn viên lăng còn hai ngôi mộ cá Ông được ngư dân an táng, nhưng chưa đến thời điểm đưa vào Lăng thờ phụng.
Gắn với tín ngưỡng dân gian thờ cúng cá Ông, lễ hội cầu ngư là lễ hội không thể thiếu đối với ngư dân miền biển. Lễ cầu ngư ở Lăng Ông Nam Hải Vạn Kim Giao không diễn ra theo định kỳ hàng năm mà theo sự phân công luân phiên của tất cả các Lăng ông trong địa bàn xã Hoài Hải, tức năm nào cũng có một Lăng tổ chức Lễ hội cầu ngư, các Lăng còn lại cùng đóng góp tổ chức.Hiện nay, xã Hoài Hải có 5 thôn và 4 lăng vạn, gồm: Lăng ở Kim Giao Bắc, Lăng ở Kim Giao Thiện, Lăng ở Diêu Quang và Lăng vạn Kim Giao (vạn Trung Nam).
Lễ hội cầu ngư có 2 phần, đó là phần lễ và phần hội. Ở phần lễ, mở đầu là nghi lễ nghinh Ông để mời ngư Ông (thần Ngư Nam Hải) về dự lễ, sau đó là lễ cầu an và cầu ngư. Các sinh hoạt văn hóa trong lễ hội đã đem lại niềm tin tín ngưỡng, niềm vui, sự hưng phấn cho ngư dân, tạo tâm thế vững tin vào vụ mùa đánh bắt mới. Đây dịp để cộng đồng tri ân với thần linh, với thế hệ tiền nhân, những người có công trong việc phát triển nghề cá, đồng thời là dịp hội ngộ bằng hữu xóm làng.
Sau phần nghi lễ trong lễ hội cần ngư là màn hát múa Bả Trạo, một nét văn hóa dân gian truyền thống dành riêng cho ngư dân vùng biển mô phỏng lại cảnh chèo thuyền, kéo lưới đánh bắt hải sản, mua bán cá tôm của các làng chài ven biển. Hát Bả Trạo còn được được tổ chức vào các dịp lễ an táng, thỉnh ngọc cốt Ông đưa vào lăng tẩm để thờ và trong các dịp lễ hội định kỳ hàng năm tại Lăng. Đây là một bộ phận nghi lễ, thể hiện diễn xướng tổng hòa nhiều yếu tố hát và múa với đạo cụ là mái chèo. Đội hình trình diễn bao gồm các con trạo (tay chèo) dưới sự chỉ huy của các tổng mũi, tổng thương, tổng lái và tổng khậu. Tất cả được xếp theo hình chiếc thuyền rồng - thuyền linh. Nội dung xuyên suốt là tạ ơn và ca ngợi công đức cá Ông, là những tâm tư của ngư dân trước cuộc sống đầy thách thức của biển cả mênh mông, đồng thời là lời cầu xin thần ban cho vạn chài cuộc sống bình an, no đủ.
Lăng Ông Nam Hải vạn Kim Giao là minh chứng cho quá trình chinh phục tự nhiên, khai thiên lập ấp trong lịch sử của nhân Hoài Hải nói riêng và Bình Định nói chung, là nơi bồi đắp tinh thần cố kết cộng đồng, sự gắn kết giữa con người và động vật biển, đồng thời góp phần bảo lưu nét đẹp của phong tục, các loại hình diễn xướng dân gian độc đáo, nghệ thuật truyền thống… đậm chất văn hóa dân gian độc đáo mang bản sắc riêng của địa phương.



