DI TÍCH LỊCH SỬ CĂN CỨ KHÁNG CHIẾN TỈNH ỦY KIẾN PHONG – CĂN CỨ XẺO QUÝT (PHẦN 1)
DI TÍCH LỊCH SỬ CĂN CỨ KHÁNG CHIẾN TỈNH ỦY KIẾN PHONG – CĂN CỨ XẺO QUÝT (phần 1)
Xẻo quýt bắt đầu từ bên trái rạch Ngã Cái, chạy ngoằn ngoèo dài hơn 5 cây số hướng Tây Nam sang Đông Bắc, làm ranh giới hai xã Mĩ Long, Mĩ Hiệp (thời chống Mĩ là Long Hiệp) tỉnh Đống Tháp (thời kháng Mĩ là huyện Kiến Văn, tỉnh Kiến Phong). Con kinh Hội đồng Tường đào tắt ngang, chia Xẻo Quýt làm hai, người dân quen gọi đoạn ngoài là Xẻo Quýt Ngoài, đoạn trong là Xẻo Quýt Trong. Căn cứ tỉnh uỷ Kiến Phong nằm ở đoạn cùng Xẻo Quýt.
Thi hành hiệp định Gionevo năm 1954, Tỉnh ủy Sa Đéc (sau là Kiến Phong), đi vào hoạt động bí mật, chủ yếu đóng trong nhà dân vùng địch kiểm soát, được sự che giấu, bảo mật, nuôi dưỡng của nhân dân. Nơi ở cứ thay đổi khi Long Hiệp, hậu xã Phong Mĩ, Cù Lao…Nhiều lúc phải vô Đồng Tháp Mười bẻ co ngon đưng lại làm thành tum, ở bí mật trong cánh đồng hoang, sồng nhờ nhân dân vượt qua mắt địch tiếp tế cơm gạo, vật dụng, cung cấp thông tin…Trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ, trước sự truy lùn, tìm diệt của địch, Tỉnh ủy Kiến Phong Vẫn không thoát li chiến trường tỉnh nhà, kịp thời lảnh đạo nhân dân chống lại các âm mưu, thủ đoạn tàn bạo, xảo quyệt của địch như tố cộng, diệt cộng, bắt thanh niên đi quân dịch, cướp của dân được chính quyền cách mạng cấp, bầu cử Quốc hội giả hiệu.v.v…Thời kì này được xem là đen tối nhất của cách mạng miền Nam.
Sau chiến thắng Giồng Thị Đam-Gò Quản Cung (26/09/1959) và các đợt phát động nhân dân nổi dậy, tấn công diệt ác phá kềm, vùng giải phóng được mở ở nông thôn. Cơ quan tĩnh ủy lại vào đóng trong nhà dân ở Kinh Nhất (xã Bình Hàng Trung, Thanh Mĩ), Long Hiệp, Mĩ Thọ…Trong đó, Tỉnh ủy thường lui tới đóng trong nhà dân ở Xẻo Quýt Trong (nhà ông Tư Bách, Ba Dậy…)
Từ năm 1960, Tỉnh ủy Kiến Phong đã nghĩ tới việc xây đựng căn cứ biệt lập của tỉnh ủy. Trong số các địa điểm, ngọn cùng Xẻo Quýt được các đống chí phụ trách xây đựng căn cứ Tỉnh ủy như Việt Mai, Nam Qưới, Mười Thép và đơn vị 279 bảo vệ Tỉnh ủy. Đây là khu vực hẻo lánh, ít người lui tới, bốn bên là đồng đưng hoang dại, cặp bờ chỉ lơ thơ một số cụm tram nhỏ, cây ô môi, gáo…
Việc đầu tiên, các đồng chí đào một số con mương từ Xẻo Quýt vào, lấy đất quăng lên thành bờ liếp, để có chổ cao ráo đắp công sự, dựng trạm ở làm việc, dưới mương có chỗ xuống đậu. Năm 1961, Tỉnh ủy phát động phong trào trồng cây gây rừng, cải tạo địa hình địa vật, khắc phục cánh đống trống, tạo nơi trú ẩn và chiến đấu cho bộ đội và các cơ quan. Mỗi người phải trồng 3000 cây/năm, là tràm, gáo, trâm bầu…theo bờ kinh, rạch, tạo những cụm, đám tram.
Cơ quan Tỉnh ủy gồm các đồng chí thường trực tỉnh ủy, Văn phòng Tỉnh ủy (quản trị, văn thư), điện đài (cơ yếu, cơ công), cùng đơn vị võ trang bảo vệ Tỉnh ủy 279. Tại căn cứ Xẻo Quýt, khi nước rút còn cỡ ngang đầu gối, tràm con được nhổ đem về trồng thành đám và cứ mở rộng diện tích theo từng năm. Nhờ đó mà vài năm sau là tràm đã phủ lá che kín mặt đất, bờ liếp. Để che giấu công sự, nhà ở trước mắt máy bay địch, các đồng chí còn bứng cả tràm cây có tang, cao ba bốn thước về trồng che kín bên trên. Suốt từ những năm 1960 đến đầu những năm 1970, cơ quan Tĩnh ủy thường xuyên di chuyển đến các căn cứ khác ở rạch ông Cùng (Long Hiệp), Bình Hàng Tây, Mĩ Hội, Mĩ Thọ, Ba Sao, Thanh Mĩ, Mĩ Lợi và có lúc phải lên tới kinh Cô Đông, Tân Công Sính, Cái Trấp, Tân Thành…nhưng điểm chính vẫn là căn cứ Xẻo Quýt. Tuy địch mấy lần ném bom và thường bắn phá vào ngay điểm, song căn cứ Xẻo Quýt vẫn được giữ bí mật, an toàn.
Từ năm 1970 cho đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mĩ, cơ quan Tỉnh ủy Kiến Phong( cuối năm 1974 là Sa Đéc) bám trụ luôn tại Xẻo Quýt. Đây là thời kì gian khổ, ác liệt nhất. Vùng giải phóng bị địch lấn chiếm, đóng đồn bót dày đặc, những lỏm còn lại bị càng quét đánh phá liên miên, có cả máy bay B52 ném bom rải thảm. Riêng căn cứ Tỉnh ủy ở Xẻo Quýt nằm gọn trong vòng vây của 12 đồn bót giặc, có 3 đồn cấp tiểu đoàn, là đồn ngã tư kinh Cái Bèo-Kinh Nhứt, đồn Gẫy kinh Nhứt (có pháo 105 li), đồn ngã tư Thanh Mĩ, còn lại là đồn cấp đại đội, trung đội. Đồn gần căn cứ Tỉnh ủy, nhất là đồn chòm cây Tử Mị, nắm trên kinh Hội đồng Tường chỉ cách hơn 2 cây số. Để bảo toàn cơ quan lảnh đạo, lúc này, thường trực Tỉnh ủy có thể dời lên biên giới Hồng Ngự-Rây veng, song Tỉnh ủy kiên quyết không thoát ly chiến trường, trụ tại chỗ để kịp thời lãnh đạo phong trào cách mạng.
Để giữ bí mật lúc này, tại căn cứ Xẻo Quýt Tỉnh ủy chủ trương dẹp bỏ hết các trại lá, chỉ còn từng nền đất nhỏ hẹp. Ban ngày, lấy nhánh tràm phủ lên, chiều tối mới căn hai tấm rả đóng bằng tre chẻ, làm hai mái trại, trên lộp nilong để tránh mưa, tránh sương, trong lót một số tấm vạt tre, trải nilong hoặc chiếu lên ngồi làm việc, họp hội tới khuya rồi giăng mùng ngủ. Muỗi rất nhiều, vừa làm việc vừa đập muỗi, khoảng 4 giờ sang tất cả mọi người thức dậy dọn dẹp, cất giấu hết đồ đạc, ngụy trang nơi ở, ăn cơm sớm, sẵn sàng đối phó địch càng quét, đánh phá. Đơn vị bảo vệ Tỉnh ủy tạo trận địa chiến đấu. Bên trong, ngoài các công sự đấp nổi kiểu chữ A chống bom pháo, còn có các hầm bí mật giành cho các đồng chí lãnh đạo, bốn phía là công sự chiến đấu của đội bảo vệ. Vùng ngoài căn cứ các đồng chí đánh nhiều “bãi chết” (tức gài lựu đạn, mìn rút chốt sẵn), chen vào đó là cắm những bãi “tử địa”, “hầm chông chống Mĩ, binh sĩ đừng đi”, “Ác ôn đi trước, yêu nước đi sau…”, cùng các cây ngù cặm trong đưng, nhằm phân hóa tinh thần và ngăn chặn quân địch. Nếu bọn nào ngoan cố đi vào là vướng lựu đạn, chông, mìn…Bên trong là những “bãi sống” (tức lựu đạn gài sẵn, khi nào địch vào mới rút chốt) nhằm ngăn chặn địch lục lạo. Các đồng chí chừa sẵn một số con đường thoát ra ngoài không gài lựu đạn và chỉ người trong cuộc mới biết. Nhiều lần địch đổ quân cách căn cứ Xẻo Quýt 500m, một, hai cây số kéo vào, có lần xe M.113 từ Kiến Văn lùi vào tận khu vực bố trí chiến đấu của ta, nhưng rồi chúng đều ớn sợ lùi ra, kéo đi nơi khác. Nhờ trận địa võ khí thô sơ dày đặc, từ ngày xây dựng khu căn cứ Xẻo Quýt cho đến ngày giải phóng, chưa có một lần nào quân giặc lọt vào khu trung tâm căn cứ này (nơi cơ quan trường trực Tỉnh ủy).
Làm việc của thường trực Tỉnh ủy thời kì này chủ yếu là ban đêm. Cứ chiều tối, các ban ngành, huyện thị có việc đến báo cáo, xin ý, hay hội họp với thường trực Tỉnh ủy thì đi xuồng đến, qua ngã ba đường chính là kinh Tắt từ kinh Phèn qua, từ kinh Hội đồng Dược (nối ngọn Xẻo Quýt qua kinh Xáng Phèn), và từ Xẻo Quýt Ngoài vào. Làm việc tới khuya, các đống chí ở nơi khác đến phải cấp tốc quay về cơ quan mình để kịp sáng chống càn. Chỉ trừ khách đặc biệt mới được ở lại khu căn cứ Tỉnh ủy. Mỗi chiều, xuống giao liên của Tỉnh mang công văn, thơ từ, tài liệu đến giao cho tổ văn thư và nhận công văn từ Tỉnh ủy gởi đi một số địa điểm ở ngoài căn cứ. Để giứ bí mật, Tỉnh ủy qui định ai được đến quan hệ làm việc với thường trực Tỉnh ủy, ai không, tức không phải ai cũng đến được. Ngay cả tên gọi cũng được ngụy trang. Văn phòng Tỉnh ủy gọi là văn phòng một. Các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy như Tam Bé, Mưới Đồng, Năm Tiên…điều mang bí số 507, 508, 509…khi giao dịch. Trên bao thơ và công văn, báo cáo đều mang mật danh. Như thường cụ Tỉnh ủy gởi thường vụ Thị xã ủy Cao Lãnh thì ghi Bạch Đằng gởi Làng Sen. Những tên gọi này thay đổi theo từng lúc để không bị lộ.
Giữ bí mật là yếu tố cực kì quan trọng để địch không bị phát hiện được nơi đóng của cơ quan Tỉnh ủy. Khẩu hiệu lúc này là “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”. Địch thường cho máy bay trinh sát L.19 quần đảo tìm dấu vết có người ở và phát hiện song điện đài phát ra từ căn cứ Xẻo Quýt. Máy bay trực thăng-nhất là UV 10 mà bà con quen gọi là “cá nốc” tới quần đảo, rà tới rà lui tìm dấu vết. Chúng ném cả máy phát hiện tiến động và hơi nóng khi có đông người vào căn cứ Xẻo Quýt. Chúng cho cảnh sát đường trường giả dạng vào vùng giải phong để phát hiện nơi cư trú của ta. Bộ phận điện đài của tỉnh đội theo dõi các đài địch, phát hiện trước các cuộc hành quân càng quét, ném bom B.52 ở vùng này để cơ quan Tỉnh ủy di chuyển, đối phó.
Nhân dân các vùng ven và địch chiếm là tai mắt của ta, thông báo tình hình địch đồng thời là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, giấy mực, thuốc men.v.v…cho cơ quan Tỉnh ủy và các cơ quan khác. Việc cung cấp này thực sự là một cuộc chiến đấu. Vì mang gạo, nhu yếu phẩm, vật dụng “quốc cấm” vô vùng giải phóng, nhân dân ngoài lòng yêu nước nồng nàng còn phải có tinh thần gan gốc, mưu trí vượt qua đồn bốt, quân đóng dã ngoại, cảnh sát, mật báo rìn đón các ngã đường. Chúng gập là tịch thu đồ đạc, người thì bị tra tấn, giam cầm. Dù vậy, cả những lúc tình hình căn thẳng nhất, bên ngoài địch phong tỏ gắt gao, bên trong vùng giải phóng địch càn quét, dội bom pháo ác liệt, nhân dân ta từ vùng ngoài vẫn cung cấp, đáp ứng những gì cần thiết cho lực lượng cách mạng nói chung, cơ quan Tỉnh ủy nói riêng. Các đống chí lãnh đạo thường xúc động nói căn cứ Xẻo Quýt là căn cứ lòng dân.
Mỗi năm cán bộ, chiến sĩ phải tự lực 3 tháng ăn, tức không được cấp sinh hoạt phí. Các đồng chí ở cơ quan Tỉnh ủy phải chia nhau giăng câu, lưới, đi cắt lúa mướn…Cá kiếm được đem nhờ bà con bán, lấy tiền mua lại gạo, đường muối…Dù thiếu thốn, gian khổ, ác liệt vô cùng như vậy, nhưng tại căn cứ Tỉnh ủy không buồn. Vẫn có những buổi nấu cháo cá, nấu chè, làm bánh cải thiện bữa ăn. Vẫn có đám cưới, sinh hoạt văn nghệ, đánh tu-lơ-khơ. Nhất là từ năm 1972 trở về sau, thế ta mạnh lên, địch phản kích yếu hơn, ở căn cứ Xẻo Quýt dựng lại trại lợp lá, có hội trường để hội họp, có bếp nấu ăn, có cả hầm nuôi cá. Ở đơn vị 279, đồng chí Võ Văn Dánh chỉ huy đơn vị, người mê chơi gà nòi, còn nuôi cả gà trống để chơi. Để gà không gáy được, vì gáy sẽ bị lộ chổ ở, đồng chí nghiên cứu dung chỉ mai lẹo lớp da dưới cổ gà, khi gái nó không ngốc cổ lên được nên không phát ra tiếng gáy. Anh Bảy Hữu đi gom sát máy bay, ống trái sang, vỏ bom napan, bom miểng…về chất thành đống phế liệu. Từ những phế liệu đó anh làm ra bếp nấu ăn, ấm nấu nước, dao xếp, kẹp tóc, lượt chải tóc, dao chặt rào kẽm gai cho đặc công, đóng đàn ghi-ta chơi cổ nhạc, đóng bàn, ghế.v.v…Sau khi có hiệp định Pari, cơ quan Tỉnh ủy đem máy phát điện nhỏ hiệu Honda (sắm từ năm 1967, cất giấu mấy năm ác liệt), đặt dưới một số hố để giảm âm thanh, gắn đèn nê-ông 6 tấc để làm việc đêm. Hội trường được cất rộng rãi hơn, lót sạp ván để ngồi làm việc và ngủ. Đồng chí Tư Hữu- Bí thư tỉnh ủy còn trồng một cây mai vàng và một cây đại (sứ) trước hội trường. Đồng chí Ba Hiệp còn dùng sơn vẽ chân dung Hồ Chủ Tịch và cảnh ngôi nhà sàn của Bác, treo ở hội trường…
Suốt thời gian chống Mĩ, tại căn cứ Xẻo Quýt, Tỉnh ủy Kiến Phong (cuối năm 1974 lại đổi là Sa Đéc) kiên cường bám trụ, lãnh đạo Đảng bộ và quân dân tỉnh nhà vượt qua biết bao thử thách ác liệt, đánh bại mọi chiến lược, chiến thuật chiến tranh của Mĩ, làm phá vở kế hoạch dồn dân vào ấp chiến lược, bình định nông thôn, lấn chiếm vùng giải phóng, vơ véc sức người sức của vùng địch chiếm…Nổi bật là tại căn cứ Xẻo Quýt, Tỉnh ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo những chiến dịch, những cuộc tấn công, nổi dậy lớn, tạo bước ngoặc ở Tỉnh nhà. Như cuộc tổng tấn công Xuân Mậu Thân năm 1968 đánh vào thị xã Cao Lãnh, gỡ hàng chục đồn bót, giải phóng hoàn toàn 6 xã, góp phần buộc Mĩ phải xuống thang chiến tranh, ngồi đàm phán ở Hội nghị Pari. Cuộc tấn công Xuân Hè năm 1972, tạo thế lực cho cách mạng Tỉnh nhà vươn lên. Trừng trị đích đáng bọn địch đi lấn chiếm vùng giải phóng sau khi Hiệp định Pari có hiệu lực. Táo bạo đưa hết 2 tiểu đoàn sang các huyện hữu ngạn sông Tiền hỗ trợ cho đồng bào vùng tôn giáo phá thế kềm kẹp mở vùng giải phóng vào cuối năm 1974 và đầu năm 1975. Cũng tại căn cứ Xẻo Quýt ngày 15/04/1975, Tỉnh ủy tổ chức mở rộng tiếp nhận Lệnh Tổng công kích Tổng khởi nghĩa của Trung ương cục và Khu ủy khu 8, ra nghị quyết và hạ quyết tâm tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã. Hội nghị khẩn trương làm việc suốt ngày đêm, đến rạng sáng ngày 16/4/1975, tất cả đại biểu điều đứng nghiêm trang trước cờ Đảng, ảnh Bác Hồ và tấm băng mang dòng chữ “Lễ nhận lệnh XXX của TW cục” giơ tay thề và thực hiện nghiêm túc mệnh lệnh, và thề đây là lần hợp cuối cùng của Tỉnh ủy tại căn cứ Xẻo Quýt, lần hợp sau phải tại thị xã Cao Lãnh đã giải phóng, lời thề đó đã trở thành hiện thực./.


