Bài viết

DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN THỜ DANH NHÂN VĂN HÓA ĐÀO DUY TỪ

Đền thờ Danh nhân văn hóa Đào Duy Từ, hiện tọa lạc tại kp Ngọc Sơn Bắc, phường Hoài Nhơn, tỉnh Gia Lai. Đền thờ là thờ tự ghi nhớ công lao, đóng góp to lớn của danh nhân văn hóa Đào Duy Từ.

Gia Lai15/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đào Duy Từ (1572 - 1634) là danh nhân văn hóa, nhà quân sự, được vua Gia Long xếp hạng Thưởng đẳng khai quốc công thần cho thờ ở Thái miếu. Được vua Minh Mạng truy tặng khai quốc công thần đặc tiến Vinh lộc Đại phu, Đông cát đại học sĩ chức Thái sư tước Hoằng Quốc Công.

Cuối thế kỷ 16 đến nửa đầu thế kỷ 17, nước ta trải qua một thời kỳ lịch sử vô cùng phức tạp, thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, chiến tranh, loạn lạc. Trong hoàn cảnh đó Đào Duy Từ (sinh năm 1572 tại làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay thuộc xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa), có tài kinh bang tế thế, thông minh học giỏi; năm Đào Duy Từ 21 tuổi, triều đình mở khoa thi Hương nhưng do con nhà ca xướng nên ông bị cấm thi. Nghe tin chúa Nguyễn Phúc Nguyên, trấn thủ Thuận Quảng, thực hiện chính sách chiêu hiền đãi sĩ. Đào Duy Từ bí mật rời Đàng Ngoài để vào Đàng Trong để tiếp tục học hành và tìm kế tiến thân.

Khoảng năm 1625, Đào Duy Từ phiêu bạt đến ở chăn trâu cho một phú ông ở Tùng Châu xưa (thuộc thị xã Hoài Nhơn, Bình Định ngày nay), phú ông có người bạn thân là quan Khám Lý phủ Hoài Nhơn Trần Đức Hòa, vốn là người mưu trí, hào hiệp lại tình “nghĩa đệ” với chúa Nguyễn. Nhận thấy Đào Duy Từ thông minh, sáng trí hiểu biết nhiều về cổ kim và kinh sử bách gia. Phú ông lấy làm lạ, đem chuyện nói với Khám Lý Trần Đức Hòa. Trần Đức Hòa cho gọi Đào Duy Từ đến gặp, thấy ông là người học rộng biết nhiều, tinh thông, am hiểu thời cuộc, nên đem lòng yêu quý rồi gả con gái của mình rồi tiến cử lên Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên vào năm 1626. Ngay buổi đầu diện kiến, Chúa Sãi đã trọng dụng, giao Đào Duy Từ chức Nha úy Nội án và phong tước Lộc Khê hầu trông coi việc quân cơ trong đình, ngoài trấn và được luận bàn chuyện quốc sự. Từ đây, tài năng xuất chúng của Đào Duy Từ được phát huy mạnh mẽ.

Với vai trò là một nhà quân sự, Đào Duy Từ có những đóng góp xuất sắc cả trên phương diện thực tiễn và lý luận. Về thực tiễn công trình “Lũy Trường Dục” và “Lũy Thầy” do ông thiết kế và trực tiếp chỉ đạo xây dựng đã thực sự phát huy hết tác dụng trong suốt cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn, góp phần giảm bớt cảnh “Nồi da xáo thịt” giữa Nhân dân Đàng Trong và Đàng Ngoài; về lý luận ông có tác phẩm “Hổ trướng khu cơ” viết bằng chứ Hán hướng dẫn về binh pháp và cách chế tạo vũ khí của ông cùng với “Binh thư yếu lược” của danh tướng nhà Trần, đây là hai cuốn binh pháp nổi tiếng của Việt Nam, vừa kế thừa các tri thức quân sự thời trước, vừa có phần phát triển sáng tạo giúp chúa Nguyến thoát khỏi sự phụ thuộc nhà Lê – Trịnh ở phía bắc, nhanh chóng trưởng thành “hùng cứ một phương”, “làm nên nghiệp bá cõi Nam”.

Với tư cách một nhà chính trị, Đào Duy Từ đã giúp chúa Nguyễn đề ra chủ trương đấu tranh ngoại giao mềm mỏng, linh hoạt với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đưa xã hội Đàng trong từng bước đi vào ổn định. Ông khuyên Chúa Nguyễn thi hành phép duyệt tuyển và khảo thí để kén chọn nhân tài giúp chấn chỉnh nội trị và tăng cường quốc phòng. Nhờ những đóng góp của ông mà chúa Nguyễn Phúc Nguyên và các chúa Nguyễn về sau đã tổ chức, củng cố xứ Đàng Trong với chính quyền vua Lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và dần mở rộng bờ cõi Đàng Trong về phương Nam.

Về kinh tế, Đào Duy Từ đã giúp dân khai khẩn lập làng, phát triển giao thông, đào sống làm thủy lợi, phát triển sản xuất; giúp chúa Nguyễn thi hành chính sách bớt sưu, giảm thuế để khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp.

Trên lĩnh vực văn hóa, Đào Duy Từ đã để lại cho đời các tác phẩm văn học có giá trị như “Ngọa Long cương vãn” và “Tư Dung Vãn” viết bằng chữ Nôm theo lối văn vần từng được các nhà nghiên cứu đánh giá cao xếp hàng đầu trong những tác phẩm văn học viết của nền văn học Đàng Trong thế kỷ XVII. Ngoài ra vở tuồng “Sơn Hậu” cũng như các điệu múa “Hoa Đăng”, “Nữ tướng xuất quân” tương truyền do ông sáng tác, được tôn làm sơ tổ của nghệ thuật tuồng và nghệ thuật bài chòi cổ dân gian.

Năm 1634, Đào Duy Từ ốm nặng rồi mất (ngày 17/10 năm Giáp Tuất), thọ 63 tuổi, được chúa Nguyễn cho đưa thi hài về quê an táng, thờ tự. Chúa Nguyễn thương tiếc mãi, đích thân đến thăm viếng, truy tặng “Hiệp mưu đồng đức công thần, đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu”, năm Gia Long thứ 4 (1804), Đào Duy Từ được xếp vào hạng Thượng đẳng, cho thờ phụng ở Thế miếu. Năm Gia Long thứ 9 (1810), Đào Duy Từ được liệt thờ ở miếu khai quốc công thần. Năm Minh mạng thứ 12 (1831), Đào Duy Từ được truy phong Đông cát đại học sĩ, Thái sư Hoàng Quốc Công.

Tám năm về bên chúa Nguyễn một khoảng thời gian không dài mà sự nghiệp Đào Duy Từ được các vua Nguyễn sau này xếp vào hàng “Đệ nhất khai quốc công thần”. Hàng năm vào ngày giỗ Đào Duy Từ, con cháu họ Đào tổ chức cúng tế rất long trọng. Những năm tròn, năm chẵn của năm sinh Đào Duy Từ, các cấp chính quyền địa phương thường tổ chức trọng thể lễ hội tưởng nhớ ông tại đền thờ.

Đền thờ nằm trong khuôn viên một thửa đất có diện tích 1.616m2 (nay thuộc khu phố Ngọc Sơn Bắc, phường Hoài Thanh Tây, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định), được xây dựng vào năm Tự Đức 12 (1859), đã trải qua nhiều lần trùng tu. Đền thờ có cổng tam quan cao khoảng 5m, xây dựng kiểu cổ lầu gồm 2 tầng, mái lợp ngói âm dương, các đầu đao uốn cong đắp nổi hình rồng, mây ghép bằng gốm mem trên đỉnh có hình lưỡng long chầu nguyệt. Tầng trên đắp bốn chữ lớn “Quốc công từ môn” (cổng đền thờ Quốc công) ghép bằng mảnh sứ, 4 góc có 4 trụ đỡ mái đắp hình rồng quấn quanh cột. Hai đầu chái cổ lầu ghép mảnh 2 chữ “Thọ”, tầng dưới ghép bằng mảnh sứ 4 chữ “Hữu khai tất niên” (tạm dịch là người có công khai phá đầu tiên). Chân rèm mái trang trí họa tiết dây tô màu xanh đen, 2 góc cửa vòm tam quan đắp nổi hai con dơi sãi cánh bay.

Qua cổng tam quan có sân nhỏ hình chữ nhật, kích thước 6,9m x 7,8m, tiếp đến là bình phong đắp hình Long Mã hà theo điển tích, mặt sau ở giữa đề bốn chữ “Bách thế bất di” (Trăm đời không thay đổi). Ở hai bên là đôi câu đối nhắc đến lai lịch Đào Duy Từ:

Ngọc Sơn chung tú Bắc

Bồng lãnh hiển danh Nam

Tạm dịch là:

Tiếng chuông Ngọc Sơn vang đất Bắc

Danh hiển Bồng Sơn rạng đất Nam

Hai bên câu đối trang trí 2 bình hoa cúc lựu trên đầu đắp 2 con rồng uốn lượn. Cách đều bình phong 2,6m về hai bên có hai trụ ngã kiến trúc cổ cao 4m, trên đỉnh đắp “Tượng hạc trên lưng rùa” đứng chầu đối xứng, phía sau là sân lớn hình chữ nhật với kích thức 15,4m x 19m. Qua sân lớn đến nhà thờ được thiết kế kiểu nhà mái lá, một kiểu kiến trúc truyền thống ở Bình Định. Khám thờ bên trong có 4 bài vị của thân Phụ và thân Mẫu ông, Đào Duy Từ và vợ. Trên bài vị Đào Duy Từ có dòng chữ “Thủy tổ khảo nội tán Lộc Khê hầu Đào Công, tặng khai quốc công thần, đặc tôn Kim tử Vinh lộc đại phu, Đông các đại học sĩ, Thái sư, nhưng thủy Trung Lương, phong Hoàng Quốc Công thần chủ”. Bài vị của vợ Đào Duy Từ viết “Thủy tổ tỉ nội tán Lộc khê hầu Hoàng Quốc Công phu nhân, Trinh thục cao thị thần chủ”. Trong nhà thờ còn có đôi câu đối nhưng nay đã mòn, mờ không đọc được và một số sắc phong, tờ chiếu, gia phả.

Di tích được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 2754/QĐ-BVHTT ngày 15/10/1994, được các cấp, ngành, địa phương quan tâm gìn giữ, phát huy giá trị di tích để ghi nhớ một bậc tiền nhân đã chọn Hoài Nhơn làm quê hương thứ hai và cùng với chúa Nguyễn có công khai phá, mở cõi Đàng Trong về phương Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn