Theo thời gian của tiến trình lịch sử, từ thời đại các Vua Hùng dựng nước suốt 4.000 năm giữ nước nối tiếp nhau, các Châu Ái, Hoan, Diễn, Tân Bình, Thuận Hóa (tên gọi các tỉnh Liên khu 4 ngày xưa) đã từng là chốn biên thùy (tiền tuyến chiến đấu) và là nơi «phên dậu» (hậu phương căn cứ địa), nơi xuất phát của các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân ta bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, xuất phát từ yêu cầu tổ chức bố trí thế chiến lược trên chiến trường toàn quốc, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định tổ chức các chiến khu quân sự. Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên được tổ chức thành Chiến khu 4 có các tên gọi khác nhau: «Chiến khu 4», «Khu 4», «Liên khu 4». Với Bình—Trị—Thiên là tiền tuyến, Thanh Nghệ—Tĩnh là hậu phương.
Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam năm 1954 thì vĩ tuyến 17 chỉ được coi là giới tuyến quân sự tạm thời. Từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đi lên xã hội chủ nghĩa. Từ vĩ tuyến 17 trở vào thuộc miền Nam bị chủ nghĩa thực dân mới là đế quốc Mỹ thống trị. Đất nước tạm thời bị chia cắt, có giới tuyến quân sự tạm thời và Khu 4 là nơi tạm thời chịu sự chia cắt đó.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Khu 4 được tổ chức lại chiến trường: Khu vực Vĩnh Linh và các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An thuộc Quân khu 4 (Thanh Hóa thuộc Quân khu 3), bắc Quảng Trị vào Thừa Thiên— Huế thuộc Khu 5 (1954 — 1965), từ 1966 đến 1975 thành lập Quân khu Trị Thiên. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thành công, nước nhà hoàn toàn độc lập và thống nhất, Quân khu 4 được thống nhất lại gồm Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình - Trị — Thiên1.
Khu 4 ở bắc Trung Bộ, nằm về phía nam thủ đô Hà Nội, bên bờ tây Thái Bình Dương, trải dài từ Dốc Xây (Tam Điệp) đến đèo Hải Vân dài 524 ki-lô-mét, từ 16,20 đến 20,3 độ vĩ bắc, từ 103,5 đến 108,10 độ kinh đông, cùng chung dãy núi Trường Sơn với nước bạn Lào anh em, có đường biên giới 1.162 ki-lô-mét. Bắc giáp tỉnh Sơn La (Quân khu 2), Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh (Quân khu 3), nam giáp tỉnh Quảng Nam — Đà Nẵng (Quân khu 5). Bờ biển dài 662 ki-lô-mét, thềm lục địa rộng 76.000 ki-lô-mét vuông. Tổng diện tích tự nhiên 52.062 ki-lô-mét vuông, với ba phần tư là vùng rừng núi. Diện tích canh tác trên 700.000 héc-ta. Địa thế dài và hẹp dần về phía nam, nơi rộng nhất là Nghệ Tĩnh 207 ki-lô-mét, nơi hẹp nhất là Bình—Trị—Thiên 50 ki-lô-mét, do đó Bình—Trị— Thiên là nơi đã diễn ra các thời kỳ bị chia cắt chiến lược. Địa hình phức tạp, núi rừng hiểm trở, độ dốc nghiêng về phía đông, nhiều dãy núi cao từ 2.000 mét đổ xuống đều xuất phát từ dãy Trường Sơn trải dài xuống trung du, đồng bằng ven biển. Nhiều dãy núi liên tiếp dọc ngang tạo thành thế «thiên hiểm» trong công cuộc tổ chức phòng thủ đất nước.
Hệ thống sông ngòi đều bắt nguồn từ tây Tây Bắc chảy xuôi về hướng đông đông nam như sông Chu, sông Mã (Thanh Hóa), sông Lam, sông La (Nghệ Tĩnh), sông Gianh, Nhật Lệ, Kiến Giang, Thạch Hãn, sông Bồ, sông Hương (Bình - Trị - Thiên) tạo nên nhiều vùng đồng bằng trù phú và hệ thống đường thủy nội địa, tạo sự chia cắt chiến trường.
Khu 4 ở vào vùng nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình trên dưới 2.000 mi-li-mét một năm, có vùng 3.000 mi-li-mét một năm như Kỳ Anh (Hà Tĩnh), Hải Vân (Bình - Trị - Thiên), vùng thấp dưới 800 mi-li-mét một năm như Cửa Rào, Mường Xén (Nghệ Tĩnh), lượng mưa không đều tập trung nhất vào các tháng 8, 9, 10 bởi những cơn bão từ Biển Đông tràn vào, thường gây nên lũ lụt lớn, làm tổn hại nặng nề cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Thông thường Thanh Hóa mưa sớm, Bình - Trị - Thiên mưa muộn, vì vậy mùa mưa ở Khu 4 kéo dài đến tháng 12 mới kết thúc.
Thời tiết hình thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, kèm theo gió tây nam khô nóng, nhiệt độ trung bình từ 30 đến 35 độ C, có vùng có lúc lên đến 40 độ C, lượng bốc hơi lớn, hạn hán kéo dài. Mùa lạnh từ tháng 11 năm trước đến cuối tháng 3 năm sau, trùng với gió mùa đông bắc gây nên nhiều đợt mưa dầm, rét đậm kéo dài, nhiệt độ trung bình từ 15 đến 20 độ C, vùng núi có lúc xuống 0 độ C.
Những đặc điểm về khí hậu, thời tiết trên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân, đồng thời cũng ảnh hưởng lớn đến những hoạt động quân sự.
Mạng lưới giao thông vận tải trên địa bàn Khu 4 tuy chất lượng chưa cao nhưng đa dạng, có giá trị về kinh tế và quốc phòng. Tuyến đường sắt Bắc-Nam qua địa bàn Khu 4 dài 619 ki-lô-mét, có 60 ga lớn nhỏ, phần lớn chạy dọc đồng bằng song song với đường số 1A. Ngoài ra còn có một vài tuyến đường sắt phụ: Bỉm Sơn đi nhà máy Xi măng Bỉm Sơn (Thanh Hóa), Cầu Giát đi Nghĩa Đàn, Vinh đi Cửa Lò, Vinh - Bến Thủy (Nghệ Tĩnh). Đường 1A chạy dọc ven biển, qua vùng đồng bằng đông dân, vượt qua các đèo cao sát biển (đèo Ngang, Lý Hòa, Phước Tượng, Phú Gia), qua nhiều cầu, phà (Hàm Rồng, Bến Thủy, sông Gianh, Quán Hầu).
Đường 15A từ Vạn Mai chạy dọc Trường Sơn qua các điểm chốt Quan Hóa, Triệu Sơn, Nghĩa Đàn, Đô Lương, Đức Thọ, Tuyên Hóa, Bãi Hà, Hướng Hóa, A Lưới, Bù Lạch, Khâm Đức vào Tây Nguyên, là trục đường chính của đường Hồ Chí Minh, cùng với các tuyến đường 15B. 22A, B... tạo nên mạng lưới giao thông vận tải chiến lược suốt cả thời kỳ chống Mỹ, cứu nước.
Các trục đường ngang từ ven biển, đồng bằng lên miền tây sang nước bạn Lào gồm: đường 217 từ Đồng Tâm (Thanh Hóa) đi Na Mèo, nối với Bắc Lào. Đường số 7 từ ngã ba Diễn Châu (Nghệ Tĩnh) lên Nậm Cắn sang đường số 13. Đường số 8 từ nga ba Bãi Vọt qua Hương Sơn (Nghệ Tĩnh) lên Na Pê —Lạc Xao. Đường số 12 từ Thanh Lạng (Tuyên Hóa) vượt cổng trời lên Ba-na-phào. Đường số 9 từ Đông Hà qua Lao Bảo (Bình —Trị — Thiên) sang Xà-vẳn-nạ-khẹt. Cùng với hệ thống đường thủy trên các sông ngòi lớn nhỏ, dọc ngang, trên kênh nhà Lê từ bắc Thanh Hóa vào Nghệ Tĩnh, đường vận tải ven biển với 11 bến cảng lớn nhỏ, có một số cảng quan trọng như Bến Thủy, Cửa Hội, Cửa Lò (Nghệ Tĩnh), Gianh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Cửa Thuận (Bình - Trị - Thiên), giao thông trên biển có giá trị lớn về vận tải viễn dương, giao lưu quốc tế, vừa bảo vệ chủ quyền lãnh hải của đất nước và phòng thủ bờ biển Quân khu 4, có đường hàng không quân sự và dân dụng nối liền các địa phương trong quân khu với cả nước.
Hệ thống giao thông thủy bộ Khu 4 có tầm quan trọng đối với kinh tế và quốc phòng trên địa bàn các tỉnh trong quân khu, nối với cả nước và là năm trên tám tuyến đường nối với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đi qua trên địa bàn Khu 4.
Do điều kiện địa lý và cấu tạo địa hình nên hình thái tự nhiên các tỉnh Khu 4 hình thành ba vùng chiến lược kinh tế và quốc phòng rất quan trọng. Mỗi lúc có chiến tranh xảy ra, trên địa bàn này hình thành ra ba chiến trường và ba vùng rõ rệt.
Vùng rừng núi: Có nhiều kim loại quý (sắt, thiếc, cơ-rôm, bốc-xít, cao lanh, vàng), nhiều gỗ tốt, trữ lượng lớn và nhiều chim muông thú quý. Có thế mạnh về kinh tế lâm — nông — công nghiệp, là địa bàn có thế « thiên hiểm » về quốc phòng. Từ xa xưa cho đến nay, các vị anh hùng dân tộc đều chọn vùng rừng núi để làm nơi lập căn cứ cho các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giữ nước và cứu nước. Mai Thúc Loan chọn vùng Sa Nam (Nam Đàn), Lê Lợi chọn đất Lam Sơn (Thanh Hóa) làm nơi tụ nghĩa, dấy binh chống quân nhà Minh, Phan Đình Phùng chọn dãy Đăng Màn (Hương Khê)... Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, chống lại sự xâm lược của hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta cũng lấy vùng rừng núi để xây dựng căn cứ hậu phương chiến lược và chiến dịch.
Vùng trung du — đồng bằng: địa thế rộng ở phía bắc, hẹp dần về phía nam có nhiều sông ngòi chia cắt, địa hình đồi núi xen kẽ, các thung lũng, đồng ruộng bậc thang, lại dựa vào thế mạnh về kinh tế và quốc phòng của vùng rừng núi và tiếp cận với vùng đồng bằng ven biển trù phú, tạo nên thế mạnh về kinh tế nông — lâm — công nghiệp và thủ công nghiệp, có thuận lợi về sản xuất lương thực, thực phẩm và hàng hóa xuất khẩu, là vùng căn cứ hậu phương, vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa là hậu phương chiến dịch cho các hướng chiến trường.
Vùng đồng bằng ven biển: có thế mạnh về kinh tế nông—ngư — công nghiệp, phát triển cả về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Là địa bàn có dân cư đông đúc nhất, đã được xây dựng thành các hệ thống làng xã trù phú, lâu đời với nhiều thị xã, thành phố — là trung tâm văn hóa, khoa học kỹ thuật, trung tâm của các đầu mối giao thông quan trọng cả đường bộ và đường thủy, là nơi tập trung nhân tài, vật lực cho chiến tranh qua các thời đại. Là tuyến phòng thủ bờ biển trực tiếp chống tập kích chiến lược bằng không quân, hải quân và các cuộc đổ bộ đường biển của địch trong mọi tình huống chiến tranh.
Với cấu tạo địa hình có nhiều dãy núi từ đồng bằng «xâm thực» ra biển và những núi độc lập sát bờ biển cùng với một số đảo lớn, nhỏ, cách bờ biển từ 27 đến 30 ki-lô-mét, kết hợp với hệ thống làng xã liên kết với các dãy núi sát gần mép nước tạo thế tổ chức phòng thủ bờ biển vững chắc. Trong đó có một số điểm cao và đảo có giá trị chiến dịch, chiến thuật quan trọng trong tác chiến chống đổ bộ đường biển của địch2.
Do đặc điểm địa lý và cấu tạo địa hình, Quân khu 4 vừa có miền biên giới ở rừng núi phía tây, vừa có đồng bằng ven biển và vùng biển hình thành ba vùng chiến lược liên kết và liên hoàn với nhau tạo thế cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước trước đây cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. _____________________________________________ | |
Logged
|
|
|