ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH, NHÂN VĂN
ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH, NHÂN VĂN
Ngày 7/5/1955, Chính phủ thành lập khu tự trị Thái - Mèo gồm 16 châu, Hồ Bốn thuộc châu Than Uyên. Ngày 18/10/1955 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 606-TTg thành lập châu Mù Cang Chải gồm 13 xã của 3 châu (châu Than Uyên, châu Văn Chấn và châu Mường La). Sau 2 năm, ngày 18/10/1957, châu Mù Cang Chải chính thức đi vào hoạt động như một đơn vị hành chính. Quốc hội khoá II, họp ngày 27/10/1962, phê chuẩn việc đổi tên Khu tự trị Thái - Mèo thành Khu tự trị Tây Bắc. Ngày 24/12/1962, tỉnh Nghĩa Lộ được thành lập. Hồ Bốn là một xã của huyện Mù Cang Chải thuộc tỉnh Nghĩa Lộ.
Năm 1976, các tỉnh Yên Bái, Lào Cai và Nghĩa Lộ (trừ 2 huyện Bắc Yên và Phù Yên tỉnh Nghĩa Lộ) hợp nhất thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. Hồ Bốn thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Năm 1991, tỉnh Hoàng Liên Sơn chia làm 2 tình là Yên Bái và Lào Cai, Hồ Bốn là một xã thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Từ đó đến nay địa danh hành chính xã Hồ Bốn không thay đổi.
Trước tháng 12/2018, Hồ Bốn có 8 bản gồm: Háng Á, Háng Đề Chu, Páo Lầu, Trống Trở, Trống Gầu Bua, Sáng Nhù, Nà Tà, Trống Là. Thực hiện quyết định số 2705/QĐ-UBND, ngày 19/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc kiện toàn, sắp xếp lại thôn, bản, tổ dân phố trên địa bàn huyện Mù Cang Chải, xã Hồ Bốn còn 5 bản là Trống Là, Trống Gầu Bua, Háng Đề Chu, Trống Trở và bàn Háng Á. Dân số là 2.832 người với 581 hộ. Xã có các dân tộc chung sống là dân tộc Mông, Thái Kinh, trong đó dân tộc Mông chiếm 94%.
Người Mông ở Hồ Bốn thuộc 2 tộc người: Mông Lềnh (Mông Hoa) và Mông đơ (Mông trắng) với những bản sắc văn hoá riêng, có nhiều nét độc đáo và giàu bản sắc dân tộc đã làm phong phú thêm cho bản sắc văn hóa chung của dân tộc Mông Mù Cang Chải.
Trước đây người Mông thường ở trên những sườn núi cao, phương thức canh tác chủ yếu là làm nương. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về định canh, định cư, người Mông xã Hồ Bốn đã canh tác lúa ruộng, nương rẫy, trồng chè. Những thửa ruộng bậc thang là thành quả hội tụ các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Mông nơi đây kết tinh những kinh nghiệm lâu đời, sự sáng tạo thể hiện rõ nét từ việc lựa chọn vùng đất, tới quá trình khai khẩn công phu, hình thành nên phương thức canh tác nông nghiệp kết hợp nhuần nhuyễn giữa nương rẫy và ruộng nước.
Những công việc này được tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác, dần phát triển thành một vùng ruộng bậc thang tựa như tuyệt tác nghệ thuật quanh đồi núi, hiện lên kỳ vĩ giữa bạt ngàn núi rừng Tây Bắc như để dâng lên trời đất, và thể hiện cuộc sống ấm no của đồng bào Mông nơi đây.
Người Mông có kỹ thuật rèn đúc khá cao, họ thường tự rèn, đúc lấy nông cụ như lưỡi cày, cuốc, dao... trong đó nổi tiếng là lưỡi cày có khả năng cày được đất khô có độ sâu từ 10 - 15 cm. Nhờ lưỡi cày to khoẻ mọi rễ cây, cỏ tranh trên nương dốc đều bị cắt đứt rễ, phương thức canh tác dùng cày trên đất khô nên năng suất lương thực của người Mông tương đối cao và ổn định.
Người Mông ở nhà nền đất, nguyên liệu làm nhà bằng gỗ, lịa ván khá chắc, mái lợp truyền thống là ván thông chẻ mỏng. Để chống lại với gió to, khí hậu lạnh và sương núi ẩm thấp, ngôi nhà thường làm thấp, cột bằng loại gỗ tốt, không có cửa sổ.
Trang phục của dân tộc Mông xã Hồ Bốn không cầu kỳ về đường nét, họa tiết hoa văn trang trí như các xã khác trong huyện, kể cả trang phục của người phụ nữ cũng rất khác biệt được trang trí bằng các mảng màu chủ đạo gồm: màu đen, xanh, đỏ. Điểm khác biệt được thể hiện trên tay áo của người phụ nữ thường được trang trí 3 đoạn vải có thể tới 6 đoạn vải màu xanh, đỏ, đen từ gấu của tay áo lên, điều hết sức đặc biệt là phụ nữ Hồ Bốn không mặc váy như phụ nữ các xã khác mà mặc quần ống rộng như đàn ông, được làm bằng vải lanh màu đen, hoặc bằng vải có màu xanh, phía trước và phía sau có tạp dề dài gần tới đầu gối, màu đen được trang trí một miếng vải màu xanh, trông rất khỏe khoắn nhưng không làm mất đi vẻ duyên dáng của người phụ nữ. Ngoài ra phụ nữ Hồ Bốn có thêm một bộ váy màu trắng, không thêu thùa, trang trí bất cứ bất cứ họa tiết nào, có các nếp gấp như bộ váy truyền thống được làm từ vải lanh, nhưng bộ trang phục này thường được dùng cho người già khi mất trở về với thế giới bên kia.
Phụ nữ dân tộc Mông rất chăm chỉ, chịu khó, ở đâu, trong hoàn cảnh nào, những lúc nhàn rỗi, chúng ta cũng bắt gặp phụ nữ Mông tranh thủ tước sợi lanh hay thêu thùa trang phục. Nhìn vào bộ trang phục nhất là bộ trang phục của phụ nữ Mông đều nhận biết được sự cần cù, chịu khó và khéo léo, tinh tế của người phụ nữ Mông.
Kho tàng văn hoá dân gian của người Mông rất phong phú, các làn điệu dân ca, dân vũ đều diễn tả tế nhị, kín đáo, sâu lắng, ví von và được giãi bày bằng các nhạc cụ đơn giản, gần gũi như: sáo, nhị, khèn môi, khèn lá, đặc biệt là khèn 6 ống được làm bằng cây trúc đã trở thành biểu tượng trong âm nhạc mang âm hưởng đặc trưng của đồng bào Mông.
Tín ngưỡng truyền thống của người Mông là thờ đa thần, họ thờ cúng tổ tiên là ông bà, cha mẹ và luôn coi đó là hình thức tín ngưỡng quan trọng để bảo tồn, giữ gìn văn hoá cội nguồn của dân tộc mình. Xã hội của người Mông được điều hành theo dòng họ khép kín, có tính luật lệ, quy ước riêng của mỗi dòng họ, được cộng đồng thừa nhận và tuân thủ nghiêm ngặt.
Hồ Bốn là vùng đất có truyền thống văn hoá, truyền thống yêu nước và cách mạng. Dòng họ, anh em dân tộc Mông trong xã có tinh thần đoàn kết, yêu quê hương, bản làng, có đức tính cần cù, chăm chỉ, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để vươn lên xoá đói giảm nghèo. Đó là những nhân tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển kinh tế - xã hội, trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế.
Ngoài cộng đồng người Mông, Hồ Bốn còn có người Thái, Kinh cùng chung sống.
Dân tộc Thái di cư huyện xã Mường Cang, huyện Than Uyên sang Hồ Bốn từ cuối những năm 1960, có 5 hộ với 23 khẩu dòng họ Điêu và họ Lìm, do thiếu đất sản xuất họ đi xuôi qua Mường Kim theo đường quốc lộ 32 đến bản Trống Là thì dừng lại, thấy đất đai tốt tươi chưa ai khai khẩn, lau cỏ mọc um tùm, lại có khe nước dồi dào, rất thuận lợi cho việc sản xuất. Họ quyết định ở lại san tạo đất để làm nhà, khai hoạng ruộng lúa cấy lúa, trồng hoa màu, chăn nuôi ổn định cuộc sống lâu dài.
Người Thái ở nhà sàn theo kiểu kiến trúc nhà của người Thái Tây Bắc. Nhà bằng gỗ chắc chắn có 3 gian và 2 chái, bên dưới nhà sàn thường để chăn nuôi (nay không chăn nuôi dưới sàn mà quy hoạch khu chăn nuôi riêng, đảm bảo sức khỏe và môi trường). Người Thái ở Hồ Bốn hiện nay có 36 hộ.
Dân tộc Thái có nền văn hóa lâu đời, độc đáo, tiêu biểu là xòe thái đã trở thành bản sắc trong kho tàng văn hóa Thái, cùng với lễ hội “Gàu tào” của dân tộc Mông làm phong phú và giàu bản sắc văn hóa xã Hồ Bốn.
Dân tộc Kinh có mặt ngay từ ngày đầu thành lập huyện, là giáo viên ở miền xuôi theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ đã tình nguyện lên miền núi để dạy học, xóa mù chữ cho người dân. Tiếp đến là các thế hệ giáo viên các tỉnh miền xuôi, giáo viên các huyện trong tỉnh, tốt nghiệp các trường sự phạm được phân công lên công tác, gắn bó với xã Hồ Bốn, rồi xây dựng gia đình, an cư lạc nghiệp. Hồ Bốn có 16 hộ người Kinh.
Không phân biệt nguồn gốc, cộng đồng các dân tộc sinh sống ở Hồ Bốn luôn đoàn kết, gắn bó với nhau trong sản xuất cũng như trong đời sống sinh hoạt, đó là một trong những cội nguồn tạo nên sức mạnh nội lực của địa phương.



