ĐIỂM XUẤT PHÁT
Đoạn văn kể về tuổi thơ, quê hương và con đường trưởng thành của Nguyễn Văn Thương. Ông sinh ra ở vùng quê nghèo Hương Sơn (Hà Tĩnh), lớn lên trong hoàn cảnh thiếu thốn nhưng ham học và giàu nghị lực. Năm 1964, trước khí thế chống Mỹ, ông tình nguyện nhập ngũ, bắt đầu cuộc đời chiến đấu lâu dài vì sự nghiệp giải phóng miền Nam.
Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo khổ, có tên là Hương Sơn - huyện miền núi thuộc phía Tây tỉnh Hà Tĩnh.
Đây là vùng cằn cỗi, đất hẹp, người thưa. Người thưa vì phần lớn người dân chịu không nổi cảnh nghèo khó, phải rời bỏ quê hương tha phương cầu thực nơi đất khách quê người. Cái nghèo đã tác động, tạo cho con người nơi đây một đức tính chịu khó, thật thà, chất phác; tằn tiện là một nếp sống mang đậm nét đặc trưng của người dân quê tôi.
Hà Tĩnh có truyền thống là đất hiếu học. Người ta xem việc học hành là cứu cánh tốt nhất. Bởi thế mà khi ra đường gặp nhau, người ta thường chào hỏi: trước hết là về sức khỏe, sau đó là việc học hành của con cháu? Ai cũng cảm thấy tự hào khi con cháu mình học hành thành đạt. Thanh niên nam nữ quê tôi lớn lên đều có xu hướng tìm nơi khác để lập nghiệp cho tương lai được sáng sủa hơn.
Vì vậy mà đi từ Nam ra Bắc, từ tận đất Mũi lên đến biên giới phía Bắc; từ vùng quê đến thành thị, từ vùng đồng bằng ven biển đến hải đảo... các bạn thường gặp và nghe giọng nói “trọ trẹ” của người dân quê tôi. Chúng tôi cũng cảm thấy được an ủi và có phần tự hào, vì dân mình đã đóng góp một phần công sức xây dựng quê hương mới, làm giàu, đẹp thêm cho Tổ quốc thân yêu của chúng ta.
Đất đai vùng Hương Sơn phần lớn là đồi núi. Ruộng ít, lại là ruộng bậc thang, nên việc cày cấy gặp nhiều khó khăn. Ngàn Phố là con sông duy nhất chảy qua huyện của tôi. Có thể nói, đây là con sông đẹp, nước trong leo lẻo. Bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào, sông Ngàn Phố chảy qua huyện Hương Sơn, xuống huyện Đức Thọ, nhập vào sông La. Cũng nhờ có phù sa do con sông bồi đắp mà những làng mạc hai bên bờ trở thành những làng quê trù phú.
Ngoài nghề làm nông, phát rẫy, người dân nơi đây có thêm nghề làm vườn truyền thống. Mùa nào, thức nấy: chè xanh, cam, dứa, mít là những đặc sản mà hương vị của nó ít có nơi nào sánh được.
Một nghề truyền thống khác được cả nước biết, đến: Đó là nghề nuôi hươu để lấy nhung. Lộc nhung hươu giàu chất đạm, là loại bổ nhất trong các loại thuốc bổ Đông, Tây y. Bổ đến mức người ta phải ấn định ở lứa tuổi nào mới được dùng nhung hươu. Thanh niên từ 30 tuổi trở xuống, nếu không có bệnh tật gì, uống vào cơ thể sẽ béo phì, nứt da, nứt thịt. Từ 40 tuổi trở lên, nhất là các cụ già, những người gầy yếu, suy nhược, uống nhung hươu cơ thể sẽ khỏe mạnh cường tráng trở lại. Đây là nghề có thu nhập khá cao, chi phí thấp, chủ yếu chi phí ban đầu mua con giống. Hươu ăn các loại cỏ và lá cây, như lá mít, lá núc nác, cây đậu phộng (lạc) sau khi thu hoạch...
Nhà tôi ở trên đồi cao, đến mùa mưa lụt, nhiều gia đình nuôi hươu thường chèo thuyền đến nhà tôi xin lá mít, lá núc nác... về cho hươu.
Các xã dọc quốc lộ số 8 và những xã vùng sâu như Sơn Mai, Sơn Thuỷ, Sơn Phúc, bên Tây sông Ngàn Phố, Sơn Giang, Sơn Lệ, Sơn Tiến... phía Đông sông, có nhiều gia đình nuôi hươu. Đây là những địa phương miền núi, thức ăn cho hươu phong phú. Tuy nhiên, từ bao đời nay, nghề chăn nuôi hươu mang tính tự phát, manh mún... Những năm gần đây, trên đà phát triển kinh tế của cả nước, ở huyện Hương Sơn quê tôi, người ta đã đầu tư đáng kể cho nghề truyền thống này. Nhiều nông trại với hàng trăm hươu sao đã được tổ chức tập trung trên những diện tích hàng chục héc ta.
Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, trăm hoa đua nở, cây cối đâm chồi nảy lộc cũng là mùa cắt nhung hươu. Cắt nhung hươu ở quê tôi như một ngày hội. Đến mùa cắt nhung hươu, khách tứ phương toả ra các xã, đến tận chuồng thỏa thuận giá cả rồi cắt luôn tại chỗ. Khi nhung hươu đang mềm, vừa nhú nhánh bóng lộn, người ta vào chuồng trói hươu lại (cũng cần nói thêm hươu là loại động vật hoang dã, rất khó thuần hoá, tuy sống gần với con người, song nếu ra khỏi chuồng là chúng chạy biến vào rừng, rất khó bắt trở lại). Thuần hoá được một con hươu phải có thời gian và rất công phu, lấy cưa cắt giữa phần xương với phần sụn. Trong khi đó, có người đã chuẩn bị rượu trong những cái bình, hoặc chậu, sau khi lấy nhung ra, hứng huyết hươu vào những bình rượu rồi chia đều mỗi người một ly uống cạn.
Nhung hươu lấy ra khỏi đầu, chỗ cắt người ta lấy bột than băng bó lại để cầm máu và sát trùng. Từ nhát cắt này, dần dần nhung hươu lại nhú lên, đến mùa xuân năm sau lại cắt. Bởi vậy sau khi cắt nhung, hươu phải được bồi dưỡng theo một chế độ đặc biệt, ăn uống phải đủ chất.
Để bán cho người tiêu thụ hoặc xuất khẩu, nhung hươu được ướp lạnh hoặc sấy khô, cắt thành lát. Những lát nhung nhìn trong suốt, như một chất keo, cô đặc. Tất cả chất bổ dưỡng tập trung ở đấy. Nếu ta không cắt, lâu ngày chất keo này sẽ thành sụn, thành xương. Đó là sừng hươu. Trong rừng, con nai cũng cho những cặp nhung. Song vì ta không bắt được, lâu ngày sẽ thành sừng nai. Và đến một lúc nào đó, chúng sẽ rụng xuống. Nhiều người đi rừng, có khi nhặt được những cặp sừng nai (còn gọi là gạc nai) mang về đính vào tường, mắc áo, trang trí, hoặc nấu cao làm thuốc bổ (gọi là cao gạc nai).
Trong y học phương Đông (như ở Hàn Quốc) người ta dùng nhung hươu, sâm cao ly và nấm linh chi để sản xuất các loại thuốc bổ (như viên nang Sâm-Nhung-Linh chi). Những gia đình nuôi hươu, trong nhà lúc nào cũng có mấy lạng nhung hươu sấy khô, dự trữ, hoặc ngâm rượu để dùng lúc ốm đau, mỏi mệt.
Chuyện nuôi hươu lấy nhung ở quê tôi lắm điều thú vị. Mời bạn hãy đến quê tôi thưởng thức món thuốc bổ quý có một không hai này.
Xin trở lại với con sông Ngàn Phố thơ mộng.
Mùa hè, nước sông Ngàn Phố trong vắt, thuyền bè xuôi ngược tấp nập. Lúc còn là học sinh, sau mỗi lần tan học, chúng tôi thường lên sườn rú1. Nằm ngồi hóng mát. Nhìn qua bên kia sông là các xã Sơn Ninh, Sơn Hoà và xa hơn nữa là các xã Sơn Quang, Sơn Giang, Sơn Lệ, Sơn Tiến, rồi thẳng xuống hướng Đông là Sơn Châu, Sơn Bình, Sơn Trà, Sơn Long, Sơn Mỹ v.v...
Chúng tôi có thể ngồi yên hàng giờ, lắng nghe tiếng sáo diều, hoặc nghe tiếng rên rỉ của rừng thông khi trời trở gió. Đã có lần chúng tôi ngủ thiếp đi trong tiếng ve ngân.
Con gái Hương Sơn đẹp nổi tiếng! Có thể một phần là do được sống trong không khí trong lành của vùng quê và được tắm nước dòng sông Ngàn Phố trong vắt, ngọt ngào.
Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình miền Trung du, xung quanh là đồi núi, ôm lấy bản làng và những cánh ruộng bậc thang, mà tất cả các khe suối đều đổ dồn vào con sông Ngàn Phố. Ruộng đồng chưa đến mùa nắng đã hạn. Nhưng mới đầu mùa mưa đã bị lụt lội. Sau những trận mưa, nước từ trên nguồn đổ về, thoát không kịp, tràn ra các cánh đồng, làng mạc. Hàng năm, nơi đây không thể thoát được cảnh lụt lội triền miên. Trận lũ lịch sử đầu mùa mưa năm 2002 đã xoá đi hầu như tất cả những thành quả đã đạt được sau 10 năm đổi mới. Suy cho cùng thì đó cũng là hệ quả của những gì do con người thiếu ý thức gây nên. Cuộc sống của người dân quê tôi luôn bị thiên tai chi phối.
Việc áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp cũng như mở mang các ngành nghề chưa có. Mãi đến gần đây, được nhà nước quan tâm đầu tư, mới cải thiện được phần nào cuộc sống về vật chất cũng như tinh thần của người dân. Nhưng xem ra còn rất chậm, tuy không phải là nơi không có những tiềm năng về kinh tế. Tại đây có suối nước khoáng thiên nhiên (Nước Sốt), mỏ sắt (Sơn Trường), có nguồn lâm sản phong phú, có đường quốc lộ số 8 nối liền với nước bạn Lào và còn nhiều tài nguyên thiên nhiên chưa được đánh thức. Nhân dân ở đây cần cù chịu khó, trí thức dồi dào. Bởi vậy, mà có câu “Lắm tiền Thịnh - Xá, văn hoá Sơn Bằng” 2 đó sao...?! Cái chính là về vấn đề cơ chế của thời bao cấp, đã kéo dài nhiều năm, không được chỉnh sửa kịp thời nên đã không phát huy được tối đa nguồn nhân lực và tiềm năng của thiên nhiên. Đây là một vấn đề nhức nhối, không thể giải quyết được trong một sớm, một chiều.
Tôi là con út trong một gia đình có 5 anh chị em. Tuy sinh năm 1944 (năm Giáp Thân) nhưng trong giấy khai sinh của tôi lại ghi năm 1945. Có thể do các cụ ngày xưa nghĩ rằng: ghi ít tuổi thì con cái sẽ được học lâu hơn? Bố tôi là một nông dân chất phác. Thời phong kiến, ông là một chức sắc nhỏ trong làng. Ông sống tử tế, hay giúp đỡ những gia đình khó khăn, nên được mọi người kính trọng. Năm tôi được 1 - 2 tuổi thì bố tôi mất. Mẹ tôi đau buồn vô hạn. Có thể do thương ông mà bà đã dành trọn tình yêu cho chúng tôi, một mình bươn chải cố gắng nuôi dạy chúng tôi trưởng thành cho đến giờ. Tôi còn nhớ câu chuyện được bà con truyền lại. Chuyện kể rằng: Đến mùa cày cấy, các anh chị em tôi còn nhỏ, một mình mẹ thức khuya, dậy sớm lo việc ăn uống cho chúng tôi. Nhà không có gạo, chỉ ăn khoai, sắn. Sau khi ăn tối xong, mẹ thường để lại củ khoai to bằng nắm tay, để sáng hôm sau dậy sớm đem theo đi làm đồng. Ruộng nhà tôi ở tận trong núi thuộc xã Sơn Mai, cách làng những 6 - 7 cây số. Bốn, năm giờ sáng, mẹ tôi cập rập dắt bò, vác cày bừa vào ruộng. Có hôm vội quá, bà chỉ kịp vớ lấy củ khoai để ở đầu dàn bếp, gói lại treo ở đầu cái bừa rồi đi. Vào đến ruộng lấy khoai lang ra ăn thì không phải củ khoai mà là cái chày giã ớt... Mẹ tôi đành phải nhịn đói đến chiều mới về. Nhiều hôm, trước khi đi cày mẹ thường thắp đèn để đó, rồi đóng cửa đi làm trong lúc anh, chị em chúng tôi đang còn ngủ. Đi được một lúc, nghe tiếng chó sủa râm ran, nghĩ là ở nhà có trộm, mẹ tôi phải quay lại xem chừng, sau đó mới yên tâm đi tiếp. Và còn nhiều câu chuyện huyền thoại, cảm động về mẹ của chúng tôi.
Hà Tĩnh quê tôi là vùng đất cổ nghèo, nhưng là nơi có truyền thống văn hoá cách mạng. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng được sinh ra ở đây. Đó là đại thi hào Nguyễn Du, thi hào Binh bộ thượng thư Nguyễn Công Trứ, nhà địa lý huyền thoại Tả Ao, nhà chính trị Nguyễn Thiếp, nhà cách mạng Phan Đình Phùng v.v... Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ vừa qua, đã có biết bao người con ưu tú, biết bao bà mẹ Việt Nam đã hy sinh cho sự nghiệp cách mạng; đã có nhiều vị cán bộ giữ những trọng trách to lớn của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tôi rất tự hào về truyền thống đó và cũng không thể không tự hào về truyền thống đó!
Cuộc đời niên thiếu của tôi trải nhiều cơ cực, nhưng cũng khoảng đời ấy đã cho tôi có được nhiều kinh nghiệm sống bổ ích.
Những năm sống dưới mái trường làng đã rèn luyện tôi có một phong cách, một bản lĩnh, một lối sống phù hợp với hoàn cảnh của địa phương và gia đình. Bởi vậy mà mỗi người chúng tôi dù đi đâu, ở đâu cũng mang theo trong mình dáng dấp truyền thống của quê hương, xứ sở.
Những năm học trường phổ thông, thiếu thốn đủ thứ. Gia đình thường xuyên thiếu gạo, nhiều lúc khoai sắn cũng không đủ ăn. Đi học, sách vở, bút mực thiếu thốn, thậm chí không có. Chúng tôi thường hái quả tắc (giống như quả chanh) vắt lấy nước, trộn với nước quả mua chín là được một thứ “mực” màu đỏ, hoặc màu tím; lấy que tre vót nhọn làm bút rồi viết lên những trang giấy bổi được làm từ bột trấu, có màu nâu (hồi đó gọi là giấy nâu). Đến lúc có giấy, bút, mực hẳn hoi lại không có tiền mua. Cả xã tôi lúc đó chỉ có 1 - 2 chiếc xe đạp cọc cạch, nhưng cũng thuộc diện nhà giàu mới có. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khốn khó ấy, lại cho tôi có nghị lực siêng năng, học giỏi.
Có hai sự kiện lúc bấy giờ, chắc nhiều người trong chúng ta còn nhớ. Đó là thời điểm trước và sau ngày hòa bình được lập lại ở miền Bắc nước ta và cuộc cải cách ruộng đất, đánh đổ giai cấp địa chủ, đem lại ruộng đất cho dân nghèo.
Những ngày này, quê hương tôi đã thực sự đổi đời, người nông dân được chia ruộng đất, trâu bò, nông cụ. Chúng tôi được ca hát, nhảy múa, sinh hoạt đội. Ban ngày được cắp sách đến trường, ban đêm đi cổ động, liên hoan văn nghệ, tham gia phong trào Trần Quốc Toản và các phong trào khác ở địa phương.
Ngày ấy, ở xã tôi có một đơn vị công binh xưởng, sơ tán về đây, lập các nhà máy sản xuất vũ khí, bom, mìn, lựu đạn. Tôi theo mấy chú vào xưởng máy, được xem những loại vũ khí do đơn vị sản xuất để cung cấp cho mặt trận. Tôi cũng đã biết được một số trang bị như nụ xòe, dây cháy chậm, kíp nổ, cách làm và nguyên lý nổ của những trái mìn, trái lựu đạn. Cũng do tính tò mò đã có những lần suýt chết, do điện giật, do nổ kíp. Sau này, khi nhập ngũ, tôi lại được biên chế vào đơn vị công binh, điều đó đã giúp tôi có được một số hiểu biết ban đầu về chất nổ và dụng cụ chế tạo bom, mìn phục vụ cho nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường.
Trước khi ký hiệp định Giơnevơ, thực dân Pháp cho máy bay ném bom khắp nơi. Đơn vị công binh xưởng ở quê tôi là một mục tiêu oanh tạc của máy bay địch. Nhiều phân xưởng bị bom đạn phá hủy, lửa cháy ngút trời. Các phân xưởng còn lại phải di chuyển liên tục từ xóm này sang xóm khác, hoặc phải nằm sâu dưới hầm để tránh bom. Lúc nhỏ, còn khờ dại, nên mỗi lần có tiếng máy bay gầm rú, mẹ đi vắng, anh chị em tôi kéo nhau trốn vào góc nhà, hoặc dưới gầm giường. Máy bay ném bom càng ngày càng ác liệt. Nhà nào cũng phải đào công sự để tránh bom. Trên các con đường làng đều có công sự, có nắp ngụy trang để cho người đi đường nhảy xuống ẩn nấp khi máy bay bất ngờ ập đến. Sợ quá, gia đình chúng tôi và một số gia đình khác phải sơ tán vào tận mãi trong xã Sơn Mai, cách nhà 6 - 7 cây số. Mẹ tôi thường phải đi đi, về về. Việc đồng áng, cày bừa đều do một tay mẹ tôi phải gánh vác.
Khi hòa bình được lập lại trên miền Bắc, chúng tôi được sống tự do, không còn sợ máy bay oanh tạc nữa. Anh chị em tôi theo mẹ về nhà. Song, trong niềm vui chung của một nửa đất nước được hòa bình, ở quê tôi còn nhiều gia đình có chồng, con, anh, em hy sinh ở Điện Biên Phủ, hoặc có người chết vì bị máy bay đánh phá!
Những năm học cấp 1 - cấp 2 ở trường càng là những năm tháng sôi nổi nhất, hồn nhiên, trong sáng nhất của đời tôi. Tuy nhà nghèo nhưng tôi học rất chăm chỉ, điều này đã giúp tôi có được hành trang tốt đẹp lúc bước vào đời quân ngũ.
Hồi ở quê, tôi biết yêu hơi sớm. Có lẽ, một phần do tôi xem nhiều tiểu thuyết lãng mạn. Đó là những cuốn “Mùa hoa dẻ”, “Đồi thông hai mộ”, “Cô gái màu hoàng yến” rồi “Tố Tâm”, “Biển động”... và cả những loại sách kiếm hiệp, trinh thám và sách cách mạng như “Một người chân chính”, “Thép đã tôi thế đấy”, “Chiến tranh và hòa bình”, cả những sách của các tác giả Trung Quốc như: “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, “Rừng thẳm tuyết dày”, “Đội du kích đường sắt”... tôi xem không biết chán. Mê sách đến nỗi tôi chép lại nguyên văn hai quyển tiểu thuyết “Mùa hoa dẻ” của Văn Linh và “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách... là những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng hồi đó. Văn hóa làng xã, nếp sống có đạo lý ở vùng quê đã in sâu trong tâm tưởng tôi.
Sau mỗi tác phẩm đọc xong, bao giờ tôi cũng tóm lược, hệ thống lại nội dung ghi vào một quyển tập. Điều này đã giúp tôi nhớ lâu và rút ra cho mình được nhiều điều bổ ích. Và, cũng từ đó mà trong tác phong sinh hoạt của tôi có pha chút lãng mạn và dí dỏm.
Đời học sinh, tôi có nhiều bạn bè, nam có, nữ cũng có. Đó cũng là điều tất nhiên của tuổi học trò.
Cái nghèo nó cay đắng làm sao! Năm tôi học đến cấp 3 rồi mà đôi dép cũng không có mà đi, không có một bộ quần áo cho tươm tất. Tôi thường phải cuốc bộ 6-7 km từ nhà đến trường. Hai bàn chân đã trở nên chai sạn. Mùa hè, đầu đội trời, chân đạp đất, mùa mưa phải mang tơi1 hoặc đội lá cọ đi học. Bạn bè thường trêu chọc gọi tôi là “con nhím” và viết lên mảnh giấy hai chữ “chống lả” 2 to tướng treo sau chiếc áo tơi. Bởi vậy mà bao giờ tôi cũng giữ một khoảng cách với các cô gái, bạn học mà lúc nào tôi cũng khát khao muốn được gần họ. Cái khoảng cách ấy tôi vẫn duy trì mãi cho đến ngày nhập ngũ, xa quê hương. Nói cho cùng thì đó cũng là cái cực, cái khổ của thế hệ chúng tôi lúc đó.
Tôi học vào loại khá. Do đọc sách nhiều mà tôi có được một ít vốn liếng văn chương. Còn các môn tự nhiên thì đã là một năng khiếu đối với tôi. Ngày ấy để nhớ và nhớ lâu các công thức về lượng giác, về hóa học và các hằng đẳng thức môn đại số..., tôi thường viết lên những chỗ hàng ngày thường đập vào mắt mình nhất, để có thể ngồi đâu cũng thấy. Thậm chí, tôi viết luôn vào nhà xí, để khi đi vệ sinh cũng nhìn thấy được. Sau ba mươi năm đi chiến đấu, trở về quê nhà, tôi vẫn còn nhìn thấy các công thức toán học ghi trên xà nhà, trong chuồng heo, chuồng bò.
Tôi cùng bạn bè còn sáng tác ra những đoạn thơ ngắn để dễ học, dễ nhớ. Ví dụ: thứ tự thực hiện các phép tính đại số như:
Nhắc cậu học trò, năm bước tỷ ti:
Mẫu số ta phải “khử” đi,
Khai triển “dấu ngoặc” ta thì làm nhanh.
Nhắn nhủ các chị các anh:
“Chuyển vế” các số “dấu” đành đổi thay,
“Số hạng đồng dạng” ra tay,
“Ước lược” cho gọn lúc này mới chia.
Muốn cho tránh tiếng cười chê:
Hệ số là phảimột bề “khác không” (≠ 0)
Hoặc:
Xin (sin) trên đôi lứa, “cốt” ta, “cốt” mình.
Với những kiến thức cơ bản đó, mà trong thực tế chiến đấu sau này đã giúp tôi làm được rất nhiều việc. Nó không những giúp cho tôi tiếp thu những kiến thức quân sự nhanh, mà việc áp dụng trong thực tế chiến đấu cũng rất phong phú. Trong việc tính toán lượng thuốc nổ để đánh cầu, cắt đứt giao thông trong chiến tranh chống Mỹ, hoặc phá hoại các công trình quân sự của địch, chúng tôi thường áp dụng công thức tính lượng nổ: P = 20F.
Hai mươi lần ép (20F), biến mày thành than!
Rồi những môn học như địa lý, bản đồ, đo đạc... đã giúp tôi những kiến thức cần thiết trong khi đi trinh sát mục tiêu của địch ở trên chiến trường. Chỉ cần một mảnh bản đồ, một la bàn (địa bàn) là chúng tôi có thể đi cùng trời cuối đất, theo yêu cầu của người chỉ huy.
Tôi không bao giờ quên các thầy cô, như thầy Nguyễn Đình Côn, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Mộng Đào, thầy hiệu trưởng Trần Đình Tiêu, thầy chủ nhiệm Lê Bá Đô, thầy Tống Trần Trinh, Nguyễn Hữu Cầu, thầy Trần Trọng Chấm, thầy Đoàn Dánh, thầy Nguyễn Xuân Mạnh, thầy Vũ Hồng Phi, Trần Tường, cô Phạm Thị Nga, cô Đào Thanh An và nhiều thầy cô khác đã dạy dỗ tôi lúc còn là học sinh cấp 1, cấp 2 và cấp 3 huyện Hương Sơn. Các thầy cô đã “theo” tôi sát tận chiến trường, tiếp thêm sức mạnh cho tôi trong từng trận chiến đấu. Cho đến hôm nay, tôi vẫn hằng mong có ngày gặp lại các thầy cô kính mến.
Xin cảm ơn các thầy, các cô đã trang bị cho tôi kiến thức, nhân cách sống và đưa tôi vào trận cùng với dân tộc đánh thắng kẻ thù.
Nhận thức được cương vị và đức tính của người giáo viên nhân dân, tốt nghiệp cấp 2 (nay là trung học cơ sở), khi chọn ngành nghề để thi vào các trường, tôi đã chọn ngành sư phạm, nhưng vì chưa đủ tuổi, nên tôi đành phải thi chuyển cấp lên cấp 3, hệ 10 năm (nay là phổ thông trung học). Tôi thi đậu ngay vào lớp tám. Đời học sinh của tôi lại được tiếp tục thêm 3 năm nữa. Nếu không có cuộc chiến tranh đang diễn ra ác liệt ở miền Nam, chắc chắn mẹ tôi vẫn cho tôi theo học đến nơi đến chốn.
Năm 1964, kết thúc chương trình lớp 9 phổ thông, tôi được lên lớp 10. Đây cũng là thời điểm tôi đến tuổi nghĩa vụ quân sự. Sức khỏe của tôi thuộc diện A3, nên được trúng tuyển. Thời gian này phong trào đi bộ đội đang nổi lên rầm rộ. Thậm chí lúc bấy giờ những người muốn được đi bộ đội phải làm đơn, phải hội đủ các tiêu chuẩn mới được chấp nhận chứ không phải muốn đi là được.
Nhập ngũ cùng đợt với tôi, trong xã duy nhất chỉ có hai người. Tôi và Uông Văn Sâm. Các xã khác có nhiều, song tôi chỉ nhớ xã Sơn Hàm có Hồ Huy Liễu, Sơn Mai có Trần Sỹ Mỹ, Sơn Thịnh có Trần Siêu, Sơn Tân có Báu, và một người nữa tôi không nhớ quê là Nguyễn Minh Hiển. Những người bạn cùng trang lứa với tôi, sau này lần lượt hy sinh tại chiến trường Khu 5. Duy nhất có lẽ chỉ mình tôi, hầu như còn nguyên vẹn cho đến bây giờ.
Thừa hưởng truyền thống của quê hương, khi lớn lên tôi theo gót cha anh đi chiến đấu trên các chiến trường suốt 30 năm không nghỉ. Cho đến nay, nhìn lại quãng đường đời đã qua, tôi không có gì phải băn khoăn, ân hận vì đã hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó. Nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc.
Cuộc đời chiến đấu của tôi đầy ắp những kỷ niệm vui, buồn. Có những kỷ niệm phải trả giá bằng xương máu. Mỗi kỷ niệm là một sự kiện trong chiến đấu, một thành quả trong công tác, học tập và lao động. Tôi thấy mình sống được đến ngày hôm nay là điều may mắn, hạnh phúc so với biết bao đồng chí, đồng đội đã ngã xuống trên khắp các chiến trường.
Thời ấy chúng tôi không hề có tư tưởng đi bộ đội là để được làm ông này bà nọ, tất cả đều nhận thức là đi đánh giặc để cứu nước. Hơn nữa đó cũng là truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha ông chúng ta từ xưa đến nay. Mặc dù chưa hình dung hết được sự ác liệt của chiến tranh, nhưng chúng tôi đều biết rằng vào bộ đội là phải chịu đựng mọi gian khổ, kể cả phải hy sinh xương máu, chúng tôi bước vào cuộc chiến một cách tự nguyện. Tự nguyện hiến dâng cho tổ quốc cả cuộc sống và tuổi trẻ của mình.
Trong những ngày chuẩn bị lên đường, nhà trường tổ chức liên hoan; địa phương tổ chức liên hoan; bạn bè xa gần đến chúc mừng và chia tay. Những dòng lưu niệm ghi kín cả quyển sổ tay... Thế mới biết, đời học sinh tuy gian lao, vất vả, nhưng tình cảm biết bao.
Năm tôi nhập ngũ, khí thế tham gia vào quân đội càng lúc càng sôi nổi khắp miền Bắc nước ta.
Quê tôi cũng như nhiều nơi trên miền Bắc thời bấy giờ, gia đình nào cũng tự hào khi có người thân đi bộ đội, hay thoát ly đi hoạt động cách mạng. Tôi chính thức tham gia cách mạng từ ngày 10 tháng 8 năm 1964. Trước đó, tôi chưa bao giờ đi xa khỏi huyện nhà.
Ngày nhập ngũ ghi dấu ấn sâu đậm không thể nào quên được trong đời tôi. Tôi là con út, lại có được một ít chữ nghĩa, thuộc loại có trình độ trong làng. Lúc bấy giờ, số thanh niên cùng trang lứa, học đến cấp III còn rất hiếm, do đó tôi được gia đình và bà con lối xóm đến đưa tiễn rất đông. Mọi người “rồng rắn” đưa tôi lên phố huyện. Ai cũng nói những lời tốt đẹp; ai cũng chúc cho tôi đi “chân cứng, đá mềm”, cố gắng cho bằng anh bằng em, hoàn thành nhiệm vụ, mau trở về với bà con làng xóm. Cô gái làng mà tôi đã được quen biết, đã đem lòng thương trộm, nhớ thầm, cứ e lệ, rụt rè, mắt đỏ hoe, chớp chớp nhìn tôi rồi quay mặt đi chỗ khác... Tôi còn nhớ, khi chia tay, cô bạn gái học dưới tôi một lớp, ghé sát tôi nói nhỏ:
- Anh cứ đi mạnh khỏe, ở nhà em chờ!
Nói xong cô đỏ mặt, vùng chạy, hân hoan như đã làm xong một công việc hệ trọng... Tôi chưa kịp nói một lời cảm ơn, thì cô đã mất hút trong dòng người đến đưa tiễn. Tôi hiểu tất cả nỗi lòng của mọi người trong phút chia tay. Dường như cây cỏ, hóa lá xung quanh cũng như đang chia sẻ với tôi giây phút lưu luyến ấy. Tôi chỉ biết gạt nước mắt, cảm ơn tất cả mọi người. Ngày ra đi, tôi cũng không ngờ phải đến 11 năm sau, cuối năm 1975 tôi mới được trở về quê nhà lần đầu tiên trong đời lính.
Sau cuộc tiễn đưa lưu luyến ấy, từ huyện Hương Sơn, chúng tôi hành quân bộ suốt một tuần lễ, dưới nắng hè gay gắt mới đến được nơi đóng quân ở thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Từ Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị ra đến các huyện Tuyên Hóa, Minh Cầm, Lệ Thủy, Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch... thuộc tỉnh Quảng Bình là địa bàn mà đơn vị chúng tôi đi ra, đi vào thường xuyên để huấn luyện quân sự, rèn luyện nâng cao thể lực. Đây cũng là những nơi đơn vị tôi thường có giúp dân chống hạn, chống lụt, thu hoạch mùa màng.
Tuy việc học tập mệt nhọc, hành quân đường dài, leo núi, leo dốc, nhưng tuổi trẻ chúng tôi lúc đó rất vui, rất yêu đời và vô tư. Phía tây tỉnh Quảng Bình có con dốc cao, dân địa phương gọi là dốc Cao Mãi. Tuần nào đơn vị chúng tôi cũng leo qua đấy để tập hành quân chiến đấu, và nâng cao thể lực. Anh em làm mấy câu thơ:
Em trông chi đó,
Em ngó chi đây.
Chồng em đang leo dốc Cao Mãi
Ở miền tây Quảng Bình.
Cuối năm 1964, tôi được biên chế vào đại đội công binh, trực thuộc Sư đoàn 325, chuẩn bị đi B (vào miền Nam).
Là một trong những đơn vị sẽ vào miền Nam ở giai đoạn đầu, nên chúng tôi được ưu tiên tối đa về các chế độ tiêu chuẩn, nhất là cung cấp về vật chất.
Ăn cơm trung táo,
Mặc áo Blu dông,
Lương tháng năm đồng
Ba năm không phép.
Thời kỳ này theo quy định về tiêu chuẩn thì có ba chế độ: Ăn theo tiêu chuẩn đại táo là thấp nhất, dành cho các lực lượng ở lại hậu phương; tiếp đến là chế độ trung táo và tiểu táo, dành cho các đơn vị đi B. Chúng tôi được hưởng chế độ “trung táo” là rất ưu tiên. Vì lúc ấy, nhân dân miền Bắc phải thắt lưng, buộc bụng để chi viện cho chiến đấu và cho đồng bào ở vùng giải phóng miền Nam, nên thực phẩm đã bắt đầu khan hiếm.
Trong hơn 6 tháng huấn luyện trên mảnh đất khô cằn của tỉnh Quảng Bình, mỗi tuần chúng tôi tập hành quân 3 ngày, mang vác trên vai bất cứ vật gì từ 25 - 30 kg, có khi là gạo, thực phẩm và nếu chưa đủ trọng lượng thì phải bỏ thêm gạch, đá vào ba lô.
Chúng tôi tập hành quân đường dài, leo núi, leo dốc, tập dã ngoại, tập vượt sông, tập các động tác quân sự và chuyên môn của binh chủng công binh, rồi lên rừng đẵn cây về xây dựng doanh trại...
Công tác chính trị lúc bấy giờ rất phong phú và được đặt lên hàng đầu, nên đã tạo được không khí hào hứng thi đua sôi nổi giữa các phân đội, mặc dù chưa ai hình dung được cuộc chiến đấu sắp tới sẽ ra sao. Trước mắt, chúng tôi chỉ biết rằng: công tác chính trị đã giúp những người lính trẻ đỡ bớt nhớ nhà, nhớ người yêu, bạn bè... Thời gian này, theo quy định, không một ai được gặp người thân, cũng không được viết thư về nhà nói đến những công việc của đơn vị. Anh em nào được cử ra ngoài đi công tác mà lén gửi thư về nhà thì thư cũng không đến được tay người nhận! Các trạm bưu điện kiểm duyệt rất chặt chẽ. Hầu hết chúng tôi đều tuân thủ các quy định một cách tự giác, vì lợi ích quốc gia.
Tình hình trên miền Bắc ngày một căng thẳng. Sau “Sự kiện vịnh Bắc bộ”, ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ đã cho máy bay ném bom ở một số nơi trên miền Bắc nước ta. Đơn vị chúng tôi nằm trong trạng thái báo động liên tục. Lúc báo động thật, lúc báo động giả. Nhiều anh lính trẻ ban đêm nằm ngủ không dám cởi giày, lúc nào cũng nơm nớp lo báo động. Một hôm, vào khoảng 8 - 9 giờ tối cuối năm 1964, địch bắn pháo dữ dội vào làng Cảnh Dương, một làng gần sát bờ biển tỉnh Quảng Bình. Chúng tôi được lệnh sơ tán vào núi. Tiếng còi báo động hú lên từng hồi. Chúng tôi chỉ kịp xách súng, khoác ba lô chạy, mãi đến gần sáng, mới được lệnh dừng chân trong một khu rừng kín đáo. Đây được coi như một thử thách đầu tiên sau một thời gian tập luyện.
Ngày 16-3-1965, thời điểm mong đợi bao ngày đã đến. Chúng tôi bắt đầu hành quân vào chiến trường miền Nam. Toàn bộ những vết tích của miền Bắc, như tiền bạc, quần áo tư trang, tranh ảnh... được lệnh không mang theo. Một kỷ niệm duy nhất là tấm hình của người bạn gái quê nhà, tôi cũng phải để lại, mà trong lòng cảm thấy nuối tiếc vì phía sau tấm ảnh có ghi địa chỉ, ngày tháng kỷ niệm của cô gái.
Tôi được trang bị một khẩu súng trường CKC dài gần bằng chiều cao của mình. Còn quân tư trang thì được trang bị một “mô đen” hoàn toàn mới. Đó là một bộ bà ba đen, hai bộ quân phục lính Pha Thét Lào (vì có những đoạn đường phải đi qua nước bạn Lào) và trang phục may theo kiểu người miền Nam thường mặc và các trang bị khác như áo mưa, tăng, võng, lương khô, giày, dép, v v… Mỗi người được nhận 7 ngày gạo, lương khô, đường, sữa và tất cả những vật dụng cần thiết, như bấm móng tay, bật lửa, kim chỉ khâu, cây rút quai dép, dao cạo râu, dụng cụ và thuốc quân y như cao con hổ, thuốc lọc nước, thuốc bổ Pôlivitamin, bông băng cá nhân và nhiều thứ khác... Tổng trọng lượng từ 25 - 30 kg.
Nhận tất cả những trang bị trên, chúng tôi thầm cảm ơn ngành hậu cần quân đội, đã quan tâm đến người lính chúng tôi thật chu đáo.
Điểm xuất phát của các đơn vị vào Nam là làng Ho, một ngồi làng ẩn trong khu rừng già phía Tây Quảng Bình, địa danh mà tất cả các đơn vị đi B vào thời kỳ ấy đều không thể nào quên được. Ở đây tất cả chúng tôi đều hô vang lời thề thiêng liêng, sẵn sàng dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trong buổi lễ xuất quân long trọng. Và đây chính là nơi chúng tôi từ giã đất Bắc, bước vào cuộc trường chinh khốc liệt của mình. Thiết nghĩ, ngày nay, sau khi đất nước ta được thống nhất, có lẽ cũng nên xây dựng một công trình văn hóa, lịch sử tại đây để các thế hệ mai sau, biết đến một địa danh đã từng là chứng tích lịch sử.


