QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHIẾN LƯỢC "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC VÀ SỰ TÁC HẠI ĐỐI VỚI MỘT SỐ NƯỚC
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHIẾN LƯỢC "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC
Chiến lược "diễn biến hòa bình" là sản phẩm của chủ nghĩa đế quốc, nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, phản ánh tính chất phức tạp, quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. "Diễn biến hòa bình" là cuộc tấn công "mềm", "ngầm", sử dụng các biện pháp phi quân sự là chủ yếu, thông qua cái gọi là "tự do", "dân chủ", "nhân quyền"... kiểu Mỹ để "tấn công" vào chủ nghĩa xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, lối sống và tôn giáo... nhằm làm xuất hiện ngay trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa những nhân tố đối lập với Đảng Cộng sản, đối lập với chủ nghĩa xã hội (tư hữu hóa về kinh tế, đa nguyên về chính trị và lối sống phương Tây). Từ đó làm suy yếu Đảng Cộng sản, làm cho cách mạng mất dần bản sắc của mình, tự diễn biến, chuyển hóa khi thời cơ xuất hiện sẽ gây sức ép về kinh tế, chính trị, tư tưởng, có thể cả quân sự để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lái chủ nghĩa xã hội theo con đường tư bản chủ nghĩa, chịu sự chi phối của Mỹ và phương Tây.
1. Sự ra đời, phát triển của chiến lược "diễn biến hòa bình".
Chiến lược "diễn biến hòa bình" ra đời vào thời kỳ chiến tranh lạnh trong bối cảnh quốc tế đang biến động phức tạp. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ngày càng diễn ra gay go quyết liệt. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế liên tục điều chỉnh chiến lược, thay đổi biện pháp đối phó với các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào tiến bộ xã hội. Trong quá trình đó, chiến lược "diễn biến hòa bình" đã ra đời, phát triển cùng với sự điều chỉnh phương thức, thủ đoạn chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế.
a) Sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ khi thế giới còn hai hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.
Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, chủ nghĩa xã hội từ một nước trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống trên thế giới (năm 1961 có 13 nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu, châu Á và châu Mỹ La-tinh), phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ. Ba dòng thác cách mạng này hình thành thế chiến lược tiến công toàn diện vào chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trở nên gay gắt, quyết liệt, biểu hiện tập trung ở cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.
Trước tình hình so sánh lực lượng bất lợi, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ ráo riết tìm kiếm giải pháp chiến lược nhằm ngăn chặn "làn sóng cộng sản" từ Đông Âu và Liên Xô. Đầu năm 1946, khi còn là đại diện lâm thời của Mỹ ở Liên Xô, G. Ken-nan đã kiến nghị với Nhà Trắng, nhân tố cơ bản nhất trong chính sách ngoại giao của Mỹ đối với Liên Xô là phải kiềm chế khuynh hướng "bành trướng", phải thực thi chính sách "ngăn chặn" lâu dài, kiên nhẫn nhưng kiên quyết và luôn luôn cảnh giác. Ken-nan cho rằng "kiềm chế và giải phóng là hai mặt của một đồng tiền, là hai phần của một vấn đề tương đối lớn", đồng thời khuyến cáo với Nhà Trắng, phải thực hiện giải pháp ngăn chặn bằng thủ đoạn gieo vào trong lòng chế độ Xô-viết những mầm mống tự thủ tiêu, làm "mềm hóa từng bước" để cuối cùng tan rã. Với ý tưởng này, Ken-nan trở thành lý luận gia đầu tiễn của chiến lược "ngăn chặn" và chiến lược "diên biến hòa bình".
Trên cơ sở lý luận của Ken-nan, tháng 3 năm 1947, chính quyền Tru-man công bố chính thức thực hiện chiến lược "ngăn chặn" chủ nghĩa cộng sản. Chiến lược "ngăn chặn" sử dụng biện pháp quân sự là chủ yếu (chiến tranh xâm lược, chiến tranh cục bộ, chiến tranh đặc biệt, chạy đua vũ trang...), kết hợp các thủ đoạn, biện pháp khác, trong đó "diễn biến hòa bình" là một thủ đoạn nhằm "chặn đứng" sự phát triển của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Văn kiện số 68 của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ xác định mục tiêu của chiến lược "ngăn chặn" là dùng mọi thủ đoạn để chặn đứng sự khuếch trương của Liên Xô trong điều kiện không phát động chiến tranh, phải gieo hạt giống thức tỉnh, hủy diệt chế độ Xô-viết nhằm tạo ra sự thay đổi tận gốc đối với xã hội Liên Xô.
Để đạt được mục tiêu trên, chính quyền Tru-man phát động cuộc chiến tranh lạnh, đối đầu quyết liệt, toàn diện với Liên Xô bằng chiến tranh tâm lý, chạy đua vũ trang, cấm vận kinh tế, lập vành đai bao quanh Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, trực tiếp can thiệp vào nội bộ nhiều nước (cả can thiệp vũ trang). Ngày 12 tháng 3 năm 1947, Tru-man đề nghị Quốc hội Mỹ viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ 400 triệu USD và cử nhân viên quân sự, dân sự đến giúp duy trì nền thống trị để các nước này không "ngả vào lòng cộng sản". Đồng thời, tháng 11 năm 1947, Mỹ đưa ra kế hoạch Mác-san (tháng 4 năm 1948, Quốc hội Mỹ chính thức phê chuẩn), viện trợ 14 tỷ USD, giúp các nước Tây Âu phục hồi kinh tế sau chiến tranh, ép các nước này loại bỏ những Bộ trưởng là cộng sản ra khỏi chính phủ liên hiệp và cài cắm gián điệp vào các đảng cộng sản, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng "dân chủ" để gây chia rẽ, phá hoại tư tưởng từ bên trong các nước xã hội chủ nghĩa. Thực chất của các kế hoạch này nhằm "ngăn chặn" chủ nghĩa cộng sản và buộc các nước Tây Âu ngả theo Mỹ, chịu sự chi phối của Mỹ.
Đối với Trung Quốc, trong một bức thư gửi Tổng thống Tru-man (ngày 20 tháng 7 năm 1949), Ngoại trưởng Mỹ Ac-ke-sơn khuyến cáo, "những người theo chủ nghĩa cá nhân ở Trung Quốc (phần tử theo chủ nghĩa dân chủ cũ, thân Mỹ) có thể tạo ra sự biến đối từ bên trong, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, làm sụp đổ chính quyền nhân dân...
Đối với các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Ngoại trưởng F.Đa-lét (1953-1959) xác định, cần phải "giải phóng" họ khỏi chế độ cộng sản nhưng không phải bằng một cuộc chiến tranh mà bằng "biện pháp hòa bình", phi chiến tranh. Theo Đa-lét, "sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội không phải là vĩnh cửu và không thể thay đổi được", trong khi các nước Tây Âu phục hồi và phát triển kinh tế, chỉ cần "hé tấm màn sắt" nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa sẽ từ bỏ chủ nghĩa cộng sản vì thấy cuộc sống tự do, tốt đẹp và sung túc ở các nước phương Tây.
Đồng thời, Mỹ câu kết với 14 quốc gia phương Tây (Anh, Pháp, Đức, Nhật...), bí mật thành lập "Ủy ban thống nhất quản lý thị trường xuất khẩu (Feria, 1949) để gây khó khăn cho việc buôn bán Đông - Tây, phá hoại thương trường thế giới, thực chất là thực hiện bao vây cấm vận đối với các nước xã hội chủ nghĩa. Theo thống kê của một tờ báo ở Hồng Kông, trong 5 năm, "từ 1949-1954 có tới hơn 100 lần tàu buôn đi tới Trung Quốc bị chặn lại và bị công kích, nhiều tàu thuyền do Trung Quốc thuê và thuyền viên Trung Quốc thậm chí bị giam vô lý dài ngày ở đất khách quê người...
Tháng 12 năm 1957, Tổng thống Ai-xen-hao (1953-1960) tuyên bố, Mỹ sẽ "giành thắng lợi bằng hòa bình" chính thức coi "diễn biến hòa bình" là chiến lược để lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa. Năm 1955, Ai-xen-hao tuyên bố mục tiêu của chiến lược "diễn biến hòa bình" là đọc lời cáo chung cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản bên thềm thế kỷ XXI. | |
Logged
|
|
|
|
saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Diễn biến hòa bình và cuộc đấu tranh chống diễn biến hòa bình ở Việt Nam« Trả lời #2 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2022, 07:04:22 am » | Tiếp tục tư tưởng của những người tiền nhiệm, Ken-nơ-đi, Giôn-sơn (1961-1968) rất chú trọng bồi dưỡng những hạt giống tự do sau bức màn thép cộng sản, và cho rằng biện pháp "diễn biến hòa bình" tuy chậm chạp nhưng đáng tin cậy.
Trước khi lên nắm quyền tổng thống, Ken-nơ-đi đã từng tuyên bố (trong diễn văn đọc tại Thượng viện Mỹ ngày 10 tháng 8 năm 1957): "Giải phóng hoặc diễn biến hòa bình đương nhiên là rất tốt... nhưng Quốc vụ khanh vẫn chưa đưa ra được những bước đi cụ thể cùng những bước đi quan trọng" và cho rằng: "Cần phải coi trọng những biện pháp cụ thể", như: gia tăng tiếp xúc, trao đổi văn hóa, khoa học, giáo dục... để phá vỡ khoảng cách với phương Tây đã có từ lâu mà Liên Xô áp đặt cho nhân dân Ba Lan; tăng cường quan hệ bằng cách lợi dụng các loại mậu dịch hữu hình và vô hình... khuyến khích những người cùng huyết thống về thăm Ba Lan; nghiên cứu thêm khả năng viện trợ kỹ thuật cho Ba Lan... thực chất là để xâm nhập, kích động chống phá nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Ba Lan; đồng thời kêu gọi (trong một diễn văn khác cũng đọc tại Thượng viện Mỹ, ngày 14 tháng 6 năm 1960): "Phải hành động ngay, phải từng bước thận trọng bồi dưỡng hạt giống tự do từ bất kỳ kẽ hở nào được xuất hiện trên bức màn thép".
Theo Ken-nơ-đi: "Chính phủ Mỹ sẽ phải chủ động hơn nữa, sử dụng một loạt công cụ linh hoạt hơn, bằng viện trợ kinh tế, mở rộng buôn bán, tăng số người du lịch, mở rộng giao lưu giữa sinh viên và giáo viên, mở rộng sự nghiệp báo chí, vốn kỹ thuật và tăng cường tiếp xúc trong nhân dân, thúc đẩy sự biến đổi hòa bình đằng sau tấm màn sắt". Sau khi đắc cử Tổng thống Mỹ, bài diễn văn đầu tiên nói về tình hình trong nước (ngày 21 tháng 1 năm 1961), Ken- nơ-đi tuyên bố: "Nước Mỹ giống như con đại bàng trên Quốc huy hình lá chắn của tổng thống, chân phải của nó cắp cành ô-liu còn chân kia cắp mũi tên, phải coi trọng cả hai chân như nhau" và giải thích "trong đối kháng với Liên Xô, một mặt phải giữ thái độ cứng rắn, nhưng mặt khác cũng phải thử xem liệu chúng ta có thể tìm thấy một số cung cách trao đối ý kiến nào đó được không". Thực hiện ý tưởng trên, trong suốt nhiệm kỳ của mình, Ken-nơ-đi đã thực hiện chính sách "đi hai chân", một mặt tiếp tục thực hiện chính sách cứng rắn (bao vây, cấm vận, chống đối), mặt khác vạch kế hoạch "hòa bình" với Liên Xô (tháng 6 năm 1961), đề xướng "liên minh vì tiến bộ", chi 20 tỷ USD viện trợ nhằm khắc phục ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Mỹ La-tinh, thành lập "đội hòa bình" ở châu Phi, điều chỉnh chiến lược quân sự "trả đũa ồ ạt" (của Ai-xen-hao) thành chiến lược "phản ứng linh hoạt", đồng thời tiến hành "chiến tranh đặc biệt", "chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam. Theo Ken-nơ-đi, "dưới ngọn cờ hòa bình có thể giành được mọi thứ trên bàn đàm phán với Liên Xô và làm gay gắt thêm mâu thuẫn Xô - Trung để từ đó tăng cường kiềm chế Trung Quốc".
Thời kỳ chính quyền Ních-Xơn, R.Pho (1969¬1980), Mỹ suy yếu, nhất là sau chiến tranh Việt Nam, Mỹ lâm vào tình trạng khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng, mất ưu thế quân sự, bị Liên Xô đuổi kịp và vượt một số mặt về kinh tế, hội chứng Việt Nam tác động sâu sắc đến nhiêu mặt đời sống xã hội Mỹ. Trong khi đó, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ (từ 1976-1981 có 21 nước giành độc lập). Trước tình thế trên, Mỹ (Ních-Xơn) cho rằng: "Diễn biến hòa bình" không thể nôn nóng, không thể hoàn thành trong mấy chục năm mà phải trong nhiều thế hệ và chủ trương khuyến khích "tự diễn biến" trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa, làm cho thông tin phương Tây "như dòng nước xói mòn và tan rã chế độ cộng sản". Trong cuốn sách "1999 - chiến thắng không cần chiến tranh", Ních-Xơn cho rằng: "Làm dịu quan hệ Đông - Tây sẽ làm cho phương Đông xuất hiện sự phân hóa lớn hơn. Tình hình căng thẳng sẽ càng củng cố thêm độc tài. Làm dịu bớt căng thẳng sẽ cho chế độ độc tài yếu đi. Không ai phủ nhận chính sách hòa dịu những năm 70 của chúng ta đã thúc đẩy sự trỗi dậy mạnh mẽ và dẫn tới sự ra đời của phong trào Công đoàn đoàn kết ở Ba Lan". Ních-Xơn còn khẳng định: "Mở chiến trường tư tưởng, tuyên truyền tự do, dân chủ và quan niệm giá trị theo kiểu Mỹ phải nắm lấy vấn đề nhân quyền, nắm vững cuộc đấu tranh về hình thái ý thức, phải mở rộng sự giao lưu với các nước xã hội chủ nghĩa để nó chịu ảnh hưởng và chịu tác động của phương Tây. Làm như vậy, thậm chí ngay cả các nhân vật lỗi lạc của Đảng Cộng sản cũng khó mà chống đỡ nổi. Đến lúc đó nó sẽ gieo hạt giống tư tưởng, những hạt giống này sẽ kết thành nụ hoa của diễn biến hòa bình".
Thời kỳ chính quyền Ri-gân (1981-1988), Mỹ khôi phục kinh tế, quân sự và vị thế quốc tế, tăng cường sức mạnh trên một số mặt. Các nước tư bản khác cũng vượt qua khủng hoảng, sản xuất bắt đầu phát triển. Trong khi đó, do duy trì quá lâu cơ chế quản lý quan liêu bao cấp và "dốc sức" chạy theo chương trình SDI (chiến tranh trên các vì sao) của Mỹ, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế, phải tiến hành cải tổ, cải cách, đổi mới để tháo gỡ. Một số nước nóng vội, chủ quan, không tôn trọng quy luật khách quan đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng trong cải tổ, cải cách, làm cho tình hình trở nên khó khăn, phức tạp hơn. Ngoài ra, do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra xu thế quốc tế hóa nền kinh tế thế giới. Trước tình thế và thời cơ đó, Mỹ từng bước điều chỉnh chiến lược nhằm xác lập vai trò của Mỹ trên thế giới, chiến lược ''diễn biến hòa bình" tiếp tục được hoàn thiện.
Khi điều chỉnh chiến lược, Mỹ ngầm đánh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời nghi binh chiến lược, tích cực tuyên truyền chạy đua vũ trang, thu hút Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa vào cái gọi là "chương trình SDI", kéo quân đội Liên Xô ra ngoài, chạy theo đối phó với "nguy cơ một cuộc chiến tranh hạt nhân tổng lực, toàn cầu", loại được công cụ sắc bén của Đảng Cộng sản Liên Xô, đặc biệt là loại được lực lượng KGB ra khỏi cuộc "chiến tranh ngầm" đang diễn ra gay gắt ngay trong lòng chế độ xã hội chủ nghĩa. Lợi dụng các nước xã hội chủ nghĩa cải tổ, cải cách, mở cửa để "mở rộng dân chủ", tháng 10 năm 1982, Mỹ mở hội nghị chuyên đề "dân chủ hóa các quốc gia cộng sản", đồng thời vạch dự án "dân chủ toàn cầu" nhằm ủng hộ sự xuất hiện của lực lượng "dân chủ" ở các nước cộng sản, tìm cách đả kích hệ tư tưởng Mác-xít, đề cao "dân chủ", "tự do" phương Tây, thúc đẩy sự hòa nhập kinh tế thế giới để lái cải cách đi chệch khỏi quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội.
Thời kỳ này Mỹ chú ý hơn đối với các "nhân tố bên trong" các nước xã hội chủ nghĩa. Theo Ngoại trưởng Mỹ, "nhân tố quan trọng của công cuộc dân chủ hóa trong các quốc gia cộng sản phải là thế lực bên trong của nó. Để tạo ra một đột phá khẩu cần nuôi dưỡng lực lượng dân chủ, bất đồng chính kiến trong các nước xã hội chủ nghĩa". Đồng thời Mỹ cho rằng "thời cơ diễn biến hòa bình ở Đông Âu đã chín muồi, Liên Xô cũng đang tiềm tàng khả năng diễn biến hòa bình" và coi Đông Âu là "đột phá khẩu" để thực hiện "diễn biến hòa bình". (Sau chuyến khảo sát các nước xã hội chủ nghĩa năm 1983, cựu Tổng thống Ních-xơn nhận định: ''Những người cộng sản Đông Âu đã hoàn toàn mất đi lòng tin. Ngày nay, phần lớn họ đã trở thành những người tham lam và quan liêu.
Ý nghĩa và niềm tin của Đảng Cộng sản bị sụp đổ... Một thế hệ những người Đông Âu đang trỗi dậy không phải là các nhà tư tưởng mà là các nhà thực tiễn cho diễn biến hòa bình").
Sau khi nhận chức Tổng thống Mỹ (tháng 1 năm 1989), G.Bu-sơ đưa ra chiến lược "vượt trên ngăn chặn", đối với Liên Xô và Đông Âu (tháng 5 năm 1989), nhằm đưa cuộc đấu tranh vào trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa, làm cho các nước xã hội chủ nghĩa bị xô đẩy tới chỗ sụp đổ. Thời kỳ này, Mỹ đặc biệt chú ý đến việc sử dụng lực lượng phản động bên trong để chống phá, làm suy yếu các nước xã hội chủ nghĩa; phân biệt đối xử đối với các nước, tăng cường viện trợ kinh tế, hỗ trợ lực lượng "dân chủ", khuyến khích "thị trường tự do" ở Liên Xô và các nước Đông Âu nhằm hướng lái các nước này đi chệch khỏi quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội; ngầm viện trợ lực lượng phản động ở một số nước thuộc "thế giới thứ ba" và gây sức ép, buộc chính quyền các nước này phải ngả theo Mỹ. Đến đây, chiến lược "diễn biến hòa bình" từ ý tưởng đã trở thành một chiến lược chống cộng hoàn chỉnh, là bộ phận quan trọng nhất trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ và các thế lực phản động.
Như vậy, khi thực hiện chiến lược "ngăn chặn" và "vượt trên ngăn chặn", nhất là từ sau thất bại ở Việt Nam, Mỹ nhận ra rằng, dùng vũ lực để "tiêu diệt" các nước xã hội chủ nghĩa là không thể thực hiện được.
Vì thế, Mỹ đã tính toán, tìm kiếm giải pháp mới. Mỹ từng bước thay đổi chiến lược, chuyển từ tiến công bằng sức mạnh quân sự là chủ yếu sang tiến công bằng "diễn biến hòa bình" là chủ yếu. Và, "diễn biến hòa bình" từ vị trí là thủ đoạn của chiến lược "ngăn chặn", "vượt trên ngăn chặn" đã trở thành một chiến lược chống cộng hoàn chỉnh. Sử dụng chiến lược này, Mỹ và các thế lực phản động đã thu được kết quả, tạo ra sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. | |
Logged
|
|
|
|
saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Diễn biến hòa bình và cuộc đấu tranh chống diễn biến hòa bình ở Việt Nam« Trả lời #3 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2022, 07:05:01 am » | b) Sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.
Sau khi tạo ra sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô, Mỹ (B.Clin-tơn, 1993) tiến hành chiến lược "can dự", thực hiện "dính líu" vào các nước, "khuếch trương" thanh thế của Mỹ để thúc đẩy "dân chủ", mở rộng kinh tế thị trường tự do trên phạm vi thế giới, trọng điểm là khu vực thuộc các nước Liên Xô cũ và Đông Âu, nhằm củng cố và thiết lập thể chế tư bản chủ nghĩa ở khu vực này, đồng thời tăng cường "diễn biến hòa bình" đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.
Chính quyền G.Bu-Sơ (từ 20 tháng 1 năm 2001) tiếp tục theo đuổi chiến lược "can dự" nhưng có sự điều chỉnh nhất định. Mỹ xác định sẽ tăng cường "dính líu" vào các nước nhưng bằng các biện pháp "cứng rắn" hơn, trong đó coi trọng "đòn phủ đầu" để thực hiện cái gọi là "chủ nghĩa quốc tế riêng của Mỹ" (G. Bu-Sơ). Mỹ tuyên bố: "Chủ nghĩa quốc tế riêng của Mỹ sẽ không có bất kể sự nhún nhường nào khiến cho Mỹ phải rút lui khỏi thế giới, co về pháo đài của chủ nghĩa bảo hộ hoặc về một hòn đảo biệt lập" (Ngoại trương Mỹ C.Pao-oen, cuộc điều trần ngày 17 tháng 1 năm 2001).
Sau khi nước Mỹ bị tấn công (ngày 11 tháng 9 năm 2001), Mỹ ra sức lợi dụng cuộc chiến "chống khủng bố, lấy cớ "kiểm soát việc sản xuất, tàng trữ vũ khí giết người hàng loạt" để tính toán, điều chỉnh chiến lược. Đặc biệt, sau khi lôi kéo đồng minh vào cuộc chiến "chống khủng bố và lôi kéo được một số nước lớn ngả theo mình, Mỹ đơn phương tuyên bố rút khỏi Hiệp ước cấm tên lửa đạn đạo (ABM), đẩy nhanh việc thử nghiệm Hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia (NMD), thành lập "Bộ tư lệnh Bắc Mỹ", tăng chi phí quân sự (năm 2002 là 331 tỷ USD, năm 2003 là 355,1 tỷ USD, năm 2004 là 368,7 tỷ USD, năm 2005 là 417 tỷ USD và đến năm 2009 dự kiến sẽ là gần 500 tỷ USD) nhằm châm ngòi một cuộc chạy đua vũ trang mới, tăng cường khả năng răn đe để thực hiện ý đồ "xây dựng thế giới một siêu cường" do Mỹ đứng đầu. Mỹ trực tiếp can thiệp (cả bằng quân sự) vào nhiều nước để mở rộng ảnh hưởng của mình ở khu vực Trung Đông và châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời triệt để lợi dụng quan hệ kinh tế và vấn đề tôn giáo, dân tộc (thông qua chiêu bài "dân chủ, nhân quyền") để "can dự" sâu hơn, nhằm "diễn biến hòa bình" đối với các nước, hoặc gây áp lực nhằm hướng lái các nước theo "quỹ đạo" của Mỹ.
Mỹ tuyên bố, sẽ thông qua việc bảo vệ "tự do và công lý", kiên quyết giữ vững những đòi hỏi không thể đàm phán về "nhân phẩm", sự cai trị của pháp luật, những giới hạn vế quyền lực của nhà nước, quyền "tự do ngôn luận, công lý, bình đẳng"... để xóa đi nhũng kẻ thù cũ.
Như vậy, sau thời kỳ chiến tranh lạnh, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế một mặt tiến hành xác lập và củng cố thể chế tư bản chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô, mặt khác tiếp tục thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" nhằm thủ tiêu các nước xã hội chủ nghĩa còn lại để xây dựng một thế giới "đơn cực" do Mỹ chi phối. Đây là ý đồ bành trướng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, đe dọa sự ổn định, nền hòa bình của nhân loại. |
|
|