saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Diễn biến hòa bình và cuộc đấu tranh chống diễn biến hòa bình ở Việt Nam« Trả lời #2 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2022, 07:04:22 am » | Tiếp tục tư tưởng của những người tiền nhiệm, Ken-nơ-đi, Giôn-sơn (1961-1968) rất chú trọng bồi dưỡng những hạt giống tự do sau bức màn thép cộng sản, và cho rằng biện pháp "diễn biến hòa bình" tuy chậm chạp nhưng đáng tin cậy.
Trước khi lên nắm quyền tổng thống, Ken-nơ-đi đã từng tuyên bố (trong diễn văn đọc tại Thượng viện Mỹ ngày 10 tháng 8 năm 1957): "Giải phóng hoặc diễn biến hòa bình đương nhiên là rất tốt... nhưng Quốc vụ khanh vẫn chưa đưa ra được những bước đi cụ thể cùng những bước đi quan trọng" và cho rằng: "Cần phải coi trọng những biện pháp cụ thể", như: gia tăng tiếp xúc, trao đổi văn hóa, khoa học, giáo dục... để phá vỡ khoảng cách với phương Tây đã có từ lâu mà Liên Xô áp đặt cho nhân dân Ba Lan; tăng cường quan hệ bằng cách lợi dụng các loại mậu dịch hữu hình và vô hình... khuyến khích những người cùng huyết thống về thăm Ba Lan; nghiên cứu thêm khả năng viện trợ kỹ thuật cho Ba Lan... thực chất là để xâm nhập, kích động chống phá nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Ba Lan; đồng thời kêu gọi (trong một diễn văn khác cũng đọc tại Thượng viện Mỹ, ngày 14 tháng 6 năm 1960): "Phải hành động ngay, phải từng bước thận trọng bồi dưỡng hạt giống tự do từ bất kỳ kẽ hở nào được xuất hiện trên bức màn thép".
Theo Ken-nơ-đi: "Chính phủ Mỹ sẽ phải chủ động hơn nữa, sử dụng một loạt công cụ linh hoạt hơn, bằng viện trợ kinh tế, mở rộng buôn bán, tăng số người du lịch, mở rộng giao lưu giữa sinh viên và giáo viên, mở rộng sự nghiệp báo chí, vốn kỹ thuật và tăng cường tiếp xúc trong nhân dân, thúc đẩy sự biến đổi hòa bình đằng sau tấm màn sắt". Sau khi đắc cử Tổng thống Mỹ, bài diễn văn đầu tiên nói về tình hình trong nước (ngày 21 tháng 1 năm 1961), Ken- nơ-đi tuyên bố: "Nước Mỹ giống như con đại bàng trên Quốc huy hình lá chắn của tổng thống, chân phải của nó cắp cành ô-liu còn chân kia cắp mũi tên, phải coi trọng cả hai chân như nhau" và giải thích "trong đối kháng với Liên Xô, một mặt phải giữ thái độ cứng rắn, nhưng mặt khác cũng phải thử xem liệu chúng ta có thể tìm thấy một số cung cách trao đối ý kiến nào đó được không". Thực hiện ý tưởng trên, trong suốt nhiệm kỳ của mình, Ken-nơ-đi đã thực hiện chính sách "đi hai chân", một mặt tiếp tục thực hiện chính sách cứng rắn (bao vây, cấm vận, chống đối), mặt khác vạch kế hoạch "hòa bình" với Liên Xô (tháng 6 năm 1961), đề xướng "liên minh vì tiến bộ", chi 20 tỷ USD viện trợ nhằm khắc phục ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Mỹ La-tinh, thành lập "đội hòa bình" ở châu Phi, điều chỉnh chiến lược quân sự "trả đũa ồ ạt" (của Ai-xen-hao) thành chiến lược "phản ứng linh hoạt", đồng thời tiến hành "chiến tranh đặc biệt", "chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam. Theo Ken-nơ-đi, "dưới ngọn cờ hòa bình có thể giành được mọi thứ trên bàn đàm phán với Liên Xô và làm gay gắt thêm mâu thuẫn Xô - Trung để từ đó tăng cường kiềm chế Trung Quốc".
Thời kỳ chính quyền Ních-Xơn, R.Pho (1969¬1980), Mỹ suy yếu, nhất là sau chiến tranh Việt Nam, Mỹ lâm vào tình trạng khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng, mất ưu thế quân sự, bị Liên Xô đuổi kịp và vượt một số mặt về kinh tế, hội chứng Việt Nam tác động sâu sắc đến nhiêu mặt đời sống xã hội Mỹ. Trong khi đó, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ (từ 1976-1981 có 21 nước giành độc lập). Trước tình thế trên, Mỹ (Ních-Xơn) cho rằng: "Diễn biến hòa bình" không thể nôn nóng, không thể hoàn thành trong mấy chục năm mà phải trong nhiều thế hệ và chủ trương khuyến khích "tự diễn biến" trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa, làm cho thông tin phương Tây "như dòng nước xói mòn và tan rã chế độ cộng sản". Trong cuốn sách "1999 - chiến thắng không cần chiến tranh", Ních-Xơn cho rằng: "Làm dịu quan hệ Đông - Tây sẽ làm cho phương Đông xuất hiện sự phân hóa lớn hơn. Tình hình căng thẳng sẽ càng củng cố thêm độc tài. Làm dịu bớt căng thẳng sẽ cho chế độ độc tài yếu đi. Không ai phủ nhận chính sách hòa dịu những năm 70 của chúng ta đã thúc đẩy sự trỗi dậy mạnh mẽ và dẫn tới sự ra đời của phong trào Công đoàn đoàn kết ở Ba Lan". Ních-Xơn còn khẳng định: "Mở chiến trường tư tưởng, tuyên truyền tự do, dân chủ và quan niệm giá trị theo kiểu Mỹ phải nắm lấy vấn đề nhân quyền, nắm vững cuộc đấu tranh về hình thái ý thức, phải mở rộng sự giao lưu với các nước xã hội chủ nghĩa để nó chịu ảnh hưởng và chịu tác động của phương Tây. Làm như vậy, thậm chí ngay cả các nhân vật lỗi lạc của Đảng Cộng sản cũng khó mà chống đỡ nổi. Đến lúc đó nó sẽ gieo hạt giống tư tưởng, những hạt giống này sẽ kết thành nụ hoa của diễn biến hòa bình".
Thời kỳ chính quyền Ri-gân (1981-1988), Mỹ khôi phục kinh tế, quân sự và vị thế quốc tế, tăng cường sức mạnh trên một số mặt. Các nước tư bản khác cũng vượt qua khủng hoảng, sản xuất bắt đầu phát triển. Trong khi đó, do duy trì quá lâu cơ chế quản lý quan liêu bao cấp và "dốc sức" chạy theo chương trình SDI (chiến tranh trên các vì sao) của Mỹ, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế, phải tiến hành cải tổ, cải cách, đổi mới để tháo gỡ. Một số nước nóng vội, chủ quan, không tôn trọng quy luật khách quan đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng trong cải tổ, cải cách, làm cho tình hình trở nên khó khăn, phức tạp hơn. Ngoài ra, do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra xu thế quốc tế hóa nền kinh tế thế giới. Trước tình thế và thời cơ đó, Mỹ từng bước điều chỉnh chiến lược nhằm xác lập vai trò của Mỹ trên thế giới, chiến lược ''diễn biến hòa bình" tiếp tục được hoàn thiện.
Khi điều chỉnh chiến lược, Mỹ ngầm đánh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời nghi binh chiến lược, tích cực tuyên truyền chạy đua vũ trang, thu hút Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa vào cái gọi là "chương trình SDI", kéo quân đội Liên Xô ra ngoài, chạy theo đối phó với "nguy cơ một cuộc chiến tranh hạt nhân tổng lực, toàn cầu", loại được công cụ sắc bén của Đảng Cộng sản Liên Xô, đặc biệt là loại được lực lượng KGB ra khỏi cuộc "chiến tranh ngầm" đang diễn ra gay gắt ngay trong lòng chế độ xã hội chủ nghĩa. Lợi dụng các nước xã hội chủ nghĩa cải tổ, cải cách, mở cửa để "mở rộng dân chủ", tháng 10 năm 1982, Mỹ mở hội nghị chuyên đề "dân chủ hóa các quốc gia cộng sản", đồng thời vạch dự án "dân chủ toàn cầu" nhằm ủng hộ sự xuất hiện của lực lượng "dân chủ" ở các nước cộng sản, tìm cách đả kích hệ tư tưởng Mác-xít, đề cao "dân chủ", "tự do" phương Tây, thúc đẩy sự hòa nhập kinh tế thế giới để lái cải cách đi chệch khỏi quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội.
Thời kỳ này Mỹ chú ý hơn đối với các "nhân tố bên trong" các nước xã hội chủ nghĩa. Theo Ngoại trưởng Mỹ, "nhân tố quan trọng của công cuộc dân chủ hóa trong các quốc gia cộng sản phải là thế lực bên trong của nó. Để tạo ra một đột phá khẩu cần nuôi dưỡng lực lượng dân chủ, bất đồng chính kiến trong các nước xã hội chủ nghĩa". Đồng thời Mỹ cho rằng "thời cơ diễn biến hòa bình ở Đông Âu đã chín muồi, Liên Xô cũng đang tiềm tàng khả năng diễn biến hòa bình" và coi Đông Âu là "đột phá khẩu" để thực hiện "diễn biến hòa bình". (Sau chuyến khảo sát các nước xã hội chủ nghĩa năm 1983, cựu Tổng thống Ních-xơn nhận định: ''Những người cộng sản Đông Âu đã hoàn toàn mất đi lòng tin. Ngày nay, phần lớn họ đã trở thành những người tham lam và quan liêu.
Ý nghĩa và niềm tin của Đảng Cộng sản bị sụp đổ... Một thế hệ những người Đông Âu đang trỗi dậy không phải là các nhà tư tưởng mà là các nhà thực tiễn cho diễn biến hòa bình").
Sau khi nhận chức Tổng thống Mỹ (tháng 1 năm 1989), G.Bu-sơ đưa ra chiến lược "vượt trên ngăn chặn", đối với Liên Xô và Đông Âu (tháng 5 năm 1989), nhằm đưa cuộc đấu tranh vào trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa, làm cho các nước xã hội chủ nghĩa bị xô đẩy tới chỗ sụp đổ. Thời kỳ này, Mỹ đặc biệt chú ý đến việc sử dụng lực lượng phản động bên trong để chống phá, làm suy yếu các nước xã hội chủ nghĩa; phân biệt đối xử đối với các nước, tăng cường viện trợ kinh tế, hỗ trợ lực lượng "dân chủ", khuyến khích "thị trường tự do" ở Liên Xô và các nước Đông Âu nhằm hướng lái các nước này đi chệch khỏi quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội; ngầm viện trợ lực lượng phản động ở một số nước thuộc "thế giới thứ ba" và gây sức ép, buộc chính quyền các nước này phải ngả theo Mỹ. Đến đây, chiến lược "diễn biến hòa bình" từ ý tưởng đã trở thành một chiến lược chống cộng hoàn chỉnh, là bộ phận quan trọng nhất trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ và các thế lực phản động.
Như vậy, khi thực hiện chiến lược "ngăn chặn" và "vượt trên ngăn chặn", nhất là từ sau thất bại ở Việt Nam, Mỹ nhận ra rằng, dùng vũ lực để "tiêu diệt" các nước xã hội chủ nghĩa là không thể thực hiện được.
Vì thế, Mỹ đã tính toán, tìm kiếm giải pháp mới. Mỹ từng bước thay đổi chiến lược, chuyển từ tiến công bằng sức mạnh quân sự là chủ yếu sang tiến công bằng "diễn biến hòa bình" là chủ yếu. Và, "diễn biến hòa bình" từ vị trí là thủ đoạn của chiến lược "ngăn chặn", "vượt trên ngăn chặn" đã trở thành một chiến lược chống cộng hoàn chỉnh. Sử dụng chiến lược này, Mỹ và các thế lực phản động đã thu được kết quả, tạo ra sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. |