Bài viết

DIỆT MẬT BÁO VÀ TRẬT TỰ

An Giang26/06/2026BAN LIÊN LẠC TÙ BINH VIỆT NAM (ĐOÀN THANH NIÊN ĐẶC KHU PHÚ QUỐC)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

DIỆT MẬT BÁO VÀ TRẬT TỰ

Mật báo và trật tự là những tù binh phản bội cam tâm làm tay sai cho địch đánh phá lực lượng từ bình. Chúng cải trang trong vai những tù binh tích cực đấu tranh, tìm cách lấy lòng anh em để dò la tin tức rồi lén lút báo cáo với bọn chỉ huy, giám thị về tổ chức Đảng, về những người lãnh đạo trong phân khu, về những kế hoạch của Đảng ủy khu giam như: đào hầm vượt ngục, chống cưỡng ép chiêu hồi...

Đồng thời, chúng dựng lên các đội trật tự nhằm kìm kẹp, đánh đập anh em tù bính, góp phần đắc lực với bọn chiến tranh chính trị và quân cảnh trong việc ép buộc, xô đẩy hàng ngàn người vào các khu Tân sinh hoạt.

Để ngăn chặn bọn mật báo và trật tự, Đảng ủy các phân khu ra nghị quyết trừng trị những tên phản bội đó. Tùy theo tội ác của bọn chúng mà Đảng ủy các phân khu có kế hoạch đối phó: nếu tội còn nhẹ thì cảnh cáo răn đe và giáo dục, mở đường cho họ trở về phía anh em; những trường hợp phá hoại gây tổn thất lớn cho tù binh thì có kế hoạch tiêu diệt, những tên trật tự đi lẻ mà địch đã cài vào phân khu, anh em theo dõi, phát hiện, sẽ đánh đuổi chúng ra khỏi phân khu và tuyên bố thẳng không cho ở chung cùng anh em, còn nếu cứ vào thì không đảm bảo tính mạng cho chúng. Trong đấu tranh, thái độ của anh em rất kiên quyết nên đã làm bọn giám thị sợ trách nhiệm nếu có án mạng xảy ra, tên mật vụ cũng sợ bị giết nên không dám ở trong trại, buộc bọn giám thị phải chuyển những tên phản bội đi nơi khác.

Với bọn trật tự, nhất là ở những nơi chúng đã tập hợp thành đội, việc đối phó với chúng khó khăn hơn, nhiều lúc phải dùng đến bạo lực, chấp nhận đổ máu và không phải tất cả các cuộc đấu tranh đều thu được thắng lợi trọn vẹn.

Có nơi anh em hành động một cách im lặng như trường hợp diệt tên mật báo trại D4 vào cuối năm 1971. Anh em đã xô tên mật báo xuống giếng rồi nhấn đầu hắn cho đến chết, sau đó báo cho bọn giám thị là hắn chết đuối nên địch không có căn cứ để kết tội anh em.

Lúc đầu, tổ chức chỉ đạo diệt chiêu hồi, mật vụ nhưng không cho người đứng ra nhận vì sợ ảnh hưởng đến tính mạng anh em. Vì vậy, về sau Đảng ủy phân khu cử người đứng ra nhận trách nhiệm diệt chúng để bảo vệ anh em, nhất là những anh em bệnh tật, bị thương cần được giữ gìn sức khỏe.

Những người dám đứng ra nhận trước bọn chỉ huy, giám thị và quân cảnh đã diệt bọn mật báo và trật tự là những anh em có tinh thần đấu tranh rất dũng cảm và sẵn sàng hy sinh bản thân mình vì tập thể. Bởi vì họ biết chắc chắn sẽ bị tra tấn dã man, có người bị đánh chết ngay trên bàn tra tấn hoặc sẽ bị tòa án của địch xét xử kết tội.

· Vụ xử tên mật vụ Lê Ba tại trại giam B7 ngày 13-1-1971

Lê Ba là tên an ninh chìm ở phân khu A4 từ năm 1968 đến năm 1971. Sau đó hắn được bọn chỉ huy đưa sang phân khu B5 làm trưởng nhóm có 10 tên trật tự viên. Hắn đã gây nhiều tội ác đối với anh em tù binh nên Đảng ủy quyết định trừ khử hắn.

Ngày 13-1-1971, anh Đoàn Thanh Phương bị chuyển từ biệt giam vào phân khu B5 thì gặp tên Lê Ba cũng vừa được đưa từ B7 sang nhằm tăng cường với bọn trật tự B5 ngăn chặn tù binh tổ chức Tết Nguyên đán năm 1971 và tiến hành đánh phá tổ chức, lập khu Tân sinh hoạt.

Đảng ủy bí mật giao cho nhóm các anh Đoàn Thanh Phương, Trần Văn Quang và Trần Văn Minh thực hiện nhiệm vụ diệt tên Lê Ba và chuẩn bị kế hoạch đối phó với sự trả thù của địch.

Thực hiện chỉ đạo của Đảng ủy phân khu, vào ngày 13-1-1971, các anh đã tiêu diệt tên Lê Ba ngay đêm đầu tiên hắn nhập trại chưa kịp móc nối với bọn trật tự ở đây và vất xác hắn ra ngoài nhà vệ sinh.

Bọn quân cảnh được tin liền báo động và kéo vào trại tiến hành điểm danh. Cả ba anh đứng ra nhận đã giết tên Lê Ba, chúng liền bắt các anh nhốt vào biệt giam. Tại đây, chúng tra tấn các anh một cách dã man. Sau đó, chúng đưa các anh về Trại giam Cần Thơ giam trong thùng “cát xô” suốt hai tuần rồi đưa ra Tòa án Cần Thơ xét xử.

· Vụ xử hai tên phản bội Doãn Văn Biên và Vũ Thanh Thủy tại phân khu D5

Phân khu D5 là phân khu chiến sĩ quê miền Bắc, anh em thường xuyên tổ chức đấu tranh. Địch cài sáu tên mật báo, trong đó có Doãn Văn Biên và Vũ Thanh Thủy vào D5 trong đợt xáo trộn tù binh giữa các phân khu. Trong sáu tên mật báo có người đã tham gia trừng trị bọn trật tự, bị địch bắt tra tấn và đưa đi giam giữ nhiều nơi, nhưng vì không vững vàng trước đòn roi và thủ đoạn mua chuộc, cưỡng ép của địch, nên đã chiêu hồi, quay sang làm mật báo cho địch.

Đảng ủy phân khu nắm rõ bọn này nên đã cử anh em kiểm soát chặt chẽ những mối quan hệ giữa chúng với bọn quân cảnh, giám thị. Từ đó, sáu tên không dám trực tiếp gặp gỡ giám thị và quân cảnh để báo tin tức mà chỉ còn cách viết thư ném vào giữa hàng rào để đến khi bọn quân cảnh vào tuần tra sẽ nhận.

Khoảng tháng 3-1971, anh em D5 tổ chức đào ba đường hẩm để chuẩn bị vượt ngục, trong đó có một đường hầm chỉ còn một tuần lễ nữa là khui miệng hầm, một đường hầm còn một tháng là hoàn thành.

Mặc dù anh em rất cẩn thận canh gác, ngụy trang che mắt bọn mật báo nhưng chúng vẫn rình mò biết được tù binh đào hầm vượt ngục. Tên Doãn Văn Biên viết giấy ném vào giữa các hàng rào dây kẽm gai phân chia C5 và D5 để báo cho bọn quân cảnh.

Nhờ cảnh giác nên vào khoảng 9 giờ sáng 4-7-1971, khi tên Biên vừa ném giấy vào giữa hàng rào, anh em C5 trông thấy liền báo cho D5 biết và anh em đã dùng dây kẽm gai luồn móc kéo vào được. Trong tờ giấy, tên Biên ghi tên 56 người ở phòng nhà bếp tham gia đào hầm, các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, các bí thư chi bộ mà chúng nghi ngờ và vị trí các miệng hẩm chúng phát hiện được,

Đảng ủy phân khu họp khẩn cấp, quyết định trừ khửtên Biên. Chỉ bộ của đồng chí Nguyễn Trọng Lượng được giao thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Đội bảo vệ tù binh gồm các anh Hà Văn Tháo (tức Phạm Văn Tính, quê Hà Nội), tổ trưởng và anh Nguyễn Văn Bình (quê Thanh Hóa) tiến hành hỏi tội tên Biên. Hắn đã nhận hết tội lỗi và xin tha thứ. Nhưng vì để bảo vệ tổ chức Đảng, bảo vệ tập thể anh em tù binh, bảo vệ công trình đường hầm đang thực hiện, đồng thời để cảnh báo các tên còn lại, Đảng ủy vẫn quyết định tửhình rồi cử người đứng ra nhận trước địch. Anh Nguyễn Văn Thanh (tức Nguyễn Dương Kế, quê Nam Định) xung phong nhận trách nhiệm giết tên Biên trước kẻ địch.

Anh Hà Văn Tháo và anh Nguyễn Văn Bình đã giết tên Biên bằng cách bấm huyệt và dùng đá đập vào đầu, hắn chết ngay. Anh em đưa xác tên Biên bỏ ở hành lang giữa phòng 5 và phòng 6.

Đúng 13 giờ, sau một hồi kẻng vang lên, anh em lần lượt kéo nhau ra sân lớn xếp hàng điểm danh trưa. Khi đi qua chỗ tên Biên nằm chết, ai nấy đều căm phẫn tên phản bội. Một tên giám thị vào điểm danh thấy thiếu một người, lập tức anh Nguyễn Văn Thanh đứng lên nhận là đã giết tên Doãn Văn Biên. Ngay lúc đó, anh Đàm Thế Sinh (tên trong tù là Trương Văn Long, quê Hà Nam) cũng đứng lên nhận đã cùng anh Thanh giết tên Biên. Tên giám thị bỏ chạy lên giám thị trưởng khu 5 báo cáo. Một lúc sau, giám thị và quân cảnh đưa xác tên Biên ra và bắt hai anh Thanh, Sinh đến phòng giám thị trưởng khu, rồi tách hai người ra hai phòng giam riêng biệt.

Ngay đêm 4-7-1971, chúng tra tấn các anh rất dã man và hỏi những câu: “Tại sao mày giết tên Biên?”, “Ai tổ chức cho mày giết nó?”, “Ở trong đó ai là bí thư chi bộ?”... Cuộc tra tấn dồn dập, liên tục nhưng chúng không khai thác được gì. Khi tỉnh lại các anh đã thấy mình nằm trong chuồng cọp phân khu 5, mình đẩy vết thương, mặt mũi sưng vù, không cựa quậy được. Chiều 5-7-1971, từ chuồng cọp phân khu B5, chúng khiêng các anh ra xe đi biệt giam khu A2.

Hai ngày sau (tức 6-7-1971), tên mật báo Vũ Thanh Thủy có ý định nhảy ra, anh em D5 phát hiện xin ý kiến Đảng ủy phân khu. Đảng ủy hội ý và quyết định cho Đội bảo vệ tù bình xử lý ngay. Hai anh Nguyễn Văn Đào (tức Nguyễn Văn Đổ, quê Hải Dương) và Nguyễn Văn Pha (tức Vũ Hồng Thăng, quê Thanh Hóa) đứng ra nhận giết tên Thủy.

Địch tra tấn các anh rất dã man rồi đưa đi biệt giam khu A2. Tại biệt giam khu A2, các anh Thanh, Kế, Sinh, Thăng và Đồ gặp nhau. Các anh đã chịu đựng mọi đau đớn, giữ tròn lời hứa trước Đảng ủy và lòng tin của anh em, kiên quyết không khai báo gì.

Ngày 14-12-1971, chúng đưa các anh về đất liền đem ra xét xử tại Toà án Quân sự Vùng 4 chiến thuật tại Cần Thơ.

* Diệt tên Nguyễn Ngọc Ai phá âm mưu lập khu Tân sinh hoạt A8

Đầu năm 1970, địch đưa tù bình từ các trại giam Vùng 1, Vùng 3, Vùng 4 ra phân khu A8. Anh em chưa kịp thành lập Đảng bộ chung mà trên cơ sở Đảng ủy của từng vùng sẽ quan hệ thống nhất hành động trong phân khu.

Từ Vùng 4 ra có tên Nguyễn Ngọc Ai, trước khi bị bắt là đoàn viên thanh niên công tác ở ấp đội. Ở Trại giam Cần Thơ, hắn tỏ ra nhút nhát trong đấu tranh nên bị khai trừ ra khỏi Đoàn. Ra Phú Quốc, hắn được giám thị đưa lên làm trật tự, làm Trưởng đại diện phân khu A8. Tên Ai kiểm soát tù binh gắt gao, lấy bớt thực phẩm, cấm tù binh qua lại các phòng, cấm tù binh trò chuyện với nhau. Để chuẩn bị lập khu Tân sinh hoạt, tên Thiếu úy Tánh, Giám thi khu A8 ra lệnh siết chặt hơn nữa sinh hoạt của tù bình. Mỗi khi bọn mật báo từ trong khu báo ra, bọn giám thị kêu anh em ra đánh đập rất tàn nhẫn trong nhiều ngày liền. Vì vậy lúc này tên Ai càng tỏ ra tích cực để lập công với bọn giám thị

Đảng ủy ba vùng hội ý và đi đến quyết định khẩn trương sớm tiêu diệt tên Ai để bảo vệ tù binh, hạ uy thế bọn trật tự, phá âm mưu lập khu Tân sinh hoạt. Nhiệm vụ được giao cho Đảng bộ Vùng 3 do đồng chí Đỗ Tiến Vạn (Ba Vạn), Bí thư Đảng ủy tổ chức thi hành.

Nhưng do hành động bị sơ hở, tên Ai chỉ bị thương, hắn la lên, quân cảnh vào cùng trật tự đưa tên Ai ra trạm xá. Giám thị bắt nhiều tù binh ra phòng điều hành tra khảo, đánh đập nhiều ngày liền. Đồng chí Ba Vạn bị đốt miệng đến chết. Bọn trật tự theo chân giám thị kìm kẹp, đánh đập tù binh một cách tàn bạo.

Vào một buổi sáng cuối năm 1970, tên Tín – Trung sĩ, Giám thị phân khu, vào tuyên bố: “Hôm nay là ngày quyết định số phận, một là về với vợ con, hai là chôn xương trên đảo” rồi cho tù binh về phòng để suy nghĩ chọn một trong hai điều trên. Sau đó, một trung đội quân cảnh cùng bọn trật tự vào các phòng, vô cớ đánh đập tất cả tù binh mà không cần biết họ có vi phạm kỷ luật, có chống đối hay không.

Sau trận đánh phủ đầu quyết liệt đó, chúng ra lệnh cho tù binh ra ngoài sân để điểm danh. Tên Tánh - Thiếu úy, Trưởng Giám thị khu 8 nói: “Hoặc các anh em về với Việt Nam Cộng hòa hoặc phải chết dần chết mòn tại đây”. Hắn vạch một con đường dài dưới đất rồi ra lệnh “Ai theo Việt Nam Cộng hòa thì bước qua trái, ai trung thành với cộng sản bước qua phải” Do quá sợ hãi sợ bị tra tấn nên có một số người (khoảng 600 người) chấp nhận chiêu hồi bước qua phía bên trái, còn khoảng 300 người không chiêu hồi bước qua bên phải.

Những người bước qua bên trái địch cho ở lại phân khu A8 và cho treo bảng Tân sinh hoạt. Còn những người không chấp thuận chiêu hồi, trung thành với lý tưởng đã chọn, bị chúng bị đánh đập rất dã man một lần nữa trước khi đẩy họ lên xe quân sự chở tới phân khu C5.

Anh em tù binh từ phân khu A8 không chịu chiêu hồi bị đưa sang phân khu C5, chưa kịp ổn định chỗ nghỉ thì vừa chập tối, tên Thiếu úy Xương, Trưởng Giám thị khu 5 đã dẫn theo một đoàn khá đông lính quân cảnh vào phòng giam đánh đập. Anh em đánh trả lại, chúng hoảng hốt chui rào tháo chạy và gọi tiếp cứu. Bọn quân cảnh ngoài hàng rào nổ súng làm cho một tù binh bị thương.

Sáng hôm sau, giám thị phân khu vẫn cấp phát lương thực cho anh em nấu ăn. Khoảng 200 tù binh từ B2 được chuyển đến phân khu A5 và hai hôm sau lại tiếp tục có một số tù binh được chuyển đến. Số lượng tù binh trong phân khu tăng lên và sức chiến đấu cũng được nâng lên. Phân khu A5 được bọn địch để yên ổn một thời gian nữa.

Cuộc chiến đấu của tù binh phân khu A8 thắng lợi một phần nhưng lực lượng tù binh bị tổn thất với số lượng lớn, hơn hai phần ba tù binh phải chịu vào Tân sinh hoạt.

· Vụ diệt chiêu hồi ở phân khu B4 tháng 9-1969

Tháng 9-1969, tại B4 địch lôi kéo một số tù binh chiêu hồi và chuẩn bị lập đội trật tự làm tay sai cho chúng.

Đảng ủy phân khu họp, có mời bí thư, phó bí thư các chỉ bộ tham dự. Nội dung chính bàn về tình hình phân khu và việc khẩn trương diệt bọn mật báo địch cài vào để phá hoại tổ chức của ta, cụ thể là các tên: Nguyễn Văn Út, Trần Văn Tây, Trần Văn Ky và Nguyễn Văn Bảy, đồng thời phân công bốn Chi bộ, mỗi Chi bộ phụ trách diệt một tên và không cửngười đứng ra nhận.

Kết quả, tên Tây bị diệt, còn ba tên Út, Bảy, Ky chạy thoát ra ngoài báo với giám thị. Địch bắt 57 người đưa lên Bộ Chỉ huy trại giam tra khảo nhiều lần, làm anh Hoàng chết tại phòng tra tấn. Sau đó, chúng bắt 8 người ra tòa án quân sự là Trần Ngọc Long, Võ Văn Lơn, Trần Văn Sơn, Lê Văn Được, Lê Trọng Chước, Hồng Quang Hải, Trần Văn Bỉ và Nguyễn Văn Bốn.

Do địch chưa kịp lập đội trật tự, anh em hành động trước nên bọn tay sai có phần lúng túng. Tuy nhiên, vì không cửngười đứng ra nhận nên địch bắt đánh đập tràn lan.

- Tại C8, cuối tháng 9-1970, địch đã thành lập một đội trật tự khoảng 30 tên. Chúng đánh đập, kìm kẹp anh em rất gắt gao nhằm chuẩn bị cho kế hoạch thành lập khu Tân sinh hoạt.

Đảng ủy phân khu quyết định diệt hai tên cầm đầu ác ôn nhất là Can và Ngọc, đồng thời phân công năm người đứng ra nhận với địch. Trong lúc hành động, do sơ suất, hai tên ác ôn la lên, bọn trật tự xách gậy chạy xuống, quân cảnh nổ súng ngăn chặn nên anh em không tiếp ứng được.

Chúng bắt năm người đứng ra nhận trách nhiệm và lôi anh Ớt, anh Thôi ra đánh đập. Anh Ớt bị đánh chết ngay còn anh Thôi vì không khai thác được gì nên chúng cho vào trại. Năm anh nhận là thủ phạm chúng tiếp tục tra khảo rồi đưa đi biệt giam.

Do địch đã có một đội trật tự mà ta chỉ dùng năm người đánh nên không thành công. Sau vụ này, chúng củng cố lực lượng, tăng cường khủng bố và cưỡng ép lập khu Tân sinh hoạt. Phân khu hơn 1.000 người nhưng chỉ có 37 người thoát về với khu tù binh. Tuy nhiên, một trăm ngày sau, khi hồi tỉnh lại, anh em lại nổi dậy hạ bảng Tân sinh hoạt, trở lại với khu tù binh sau một trận đấu tranh khá quyết liệt.

- Ở phân khu A10, khoảng tháng 5-1970, địch đưa về khoảng 1.000 tù binh có lẫn 28 tên trật tự do tên Khiêm cẩm đầu để chuẩn bị lập Tân sinh hoạt. Anh em quyết định phải diệt ba tên ác ôn nhất trong đó có tên Khiêm, không cử người nhận và sau đó cả phân khu cùng tham gia đấu tranh. Giờ hành động là chập tối, trước lúc giới nghiêm. Tên Khiêm bị giết chết, hai tên khác chỉ bị thương.

Ngay đêm đó, địch bắt đại diện tù binh và 4 – 5 anh em ra đánh. Sáng hôm sau toàn phân khu kéo ra sân đòi đuổi bọn trật tự. Cả phân khu đồng loạt giơ tay đề nghị không cho chúng ở chung với tù binh. Anh em ngồi ở sân kiên quyết đấu tranh đến chiều. Khoảng 16 giờ, bọn trật tự ôm quần áo chạy ra cổng.

Phân khu A10 thu được thắng lợi nhờ nhạy bén kịp thời tấn công bọn trật tự ngay từ lúc chúng mới tới, chưa kịp cũng cố lực lượng và biết dùng sức mạnh của cả phân khu kéo ra đấu tranh để hỗ trợ những anh em bị bắt đánh đập và có thái độ rất kiên quyết nên địch phải chùn tay.

- Ở phân khu A4, phân khu sĩ quan miền Nam, vào cuối năm Âm lịch (tháng 2-1970), địch đưa trật tự từ nơi khác đến đánh đập anh em. Anh em đánh lại, diệt ba tên trật tự, một tên bị móc mắt, một quân cảnh bị thương.

Anh em tù binh có 13 người chết, khoảng 30 người bị thương. Chỉ huy trưởng hứa sẽ thỏa mãn những yêu sách của anh em.

Từ đó về sau, bọn trật tự không trở lại phân khu sĩ quan miền Nam và địch không còn tiếp tục kế hoạch cưỡng ép chiêu hồi ở đây.

Tổn thất của anh em phân khu A4 rất lớn, nhưng cũng thu được thắng lợi, chấm dứt kế hoạch cưỡng ép chiêu hồi của địch. Nếu không có sự hy sinh đó của anh em, chắc chắn những cuộc đấu tranh sau này sẽ thiệt hại càng lớn hơn.

Từ những thắng lợi và tổn thất trong các cuộc đấu tranh chống chiến dịch cưỡng ép, chiêu hồi của địch, các phân khu tổng kết được những kinh nghiệm quý báu:

Mỗi lần tù binh trừng trị bọn trật tự, quân cảnh phản ứng mạnh mẽ vì đó là tay sai, là công cụ của chúng dùng để kìm kẹp, đàn áp và cưỡng ép anh em chiêu hồi. Vì vậy, trong việc trừng trị trật tự, anh em tù binh có bị thiệt hại. Nhưng nếu không hạ được uy thế của chúng, không đuổi chúng ra khỏi phân khu thì sự thiệt hại về thể xác và tinh thần sẽ còn lớn hơn nhiều.

Những năm đầu, anh em tổ chức trừng trị chúng mà không cho người đứng ra nhận nên địch bắt người ra đánh tràn lan để tìm tổ chức và thủ phạm. Tình hình đó gây một số thiệt hại cho tổ chức Đảng trong phân khu và cho anh em.

Về sau, khi trừng trị bọn phản bội, Đảng ủy chọn một số anh em dũng cảm đứng ra nhận trách nhiệm với lý do là chúng phản bội lý tưởng cách mạng. Vì đã có người nhận, địch không bắt tràn lan và chỉ đánh đập một thời gian ngắn rồi đưa vào biệt giam. Việc chọn người nhận phải trên cơ sở tự nguyện, có tư tưởng vững vàng và chịu nổi sự khảo tra của địch. Cử người nhận như thế ít bị bắt bớ đánh đập tràn lan và cũng không có người nhận nào khai báo làm hại tổ chức trong trại giam.

Tuy nhiên, cũng có nơi không cử người đứng ra chịu trách nhiệm mà tìm cách tạo ra như một tình huống bất ngờ do bị bọn trật tự đánh đập nên anh em tức giận đánh lại, một phản ứng tự nhiên chứ không ai tổ chức cả. Mặt khác khi diệt mật báo, nếu hành động êm và tạo được lý lẽ để che giấu giám thị thì cũng không cần cho người đứng ra nhận trách nhiệm như trường hợp xô một tên mật báo xuống giếng ở D4 cuối năm 1971.

Trong việc trừng trị bọn trật tự, phải tổ chức cho anh em hành động sớm, khi đội trật tự chưa kịp hình thành, mới chỉ có một số tên bắt đầu hoạt động hoặc khi chúng vừa từ các nơi đến, chưa kịp củng cố đội ngũ và phải biết phát huy kịp thời đúng lúc sức mạnh của toàn thể anh em trong phân khu; đồng thời phải tổ chức đấu tranh liên tục, cuộc đấu tranh sau hỗ trợ cho cuộc đấu tranh trước để giành thế chủ động thì mới có thể thu được thắng lợi trước một kẻ thù độc ác và nham hiểm.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn