ĐIỀU TRỊ 150 CA SUY KIỆT NẶNG
Đoạn văn là một hồi ký xúc động và đầy kịch tính về cuộc đấu tranh giành lại sự sống cho 150 chiến sĩ tân binh bị suy kiệt nghiêm trọng do đói kéo dài tại Bệnh xá 305 vào năm 1970. Trước những bệnh nhân chỉ còn "da bọc xương", mạch chậm, huyết áp thấp và cơ thể co quắp vì thiếu hụt dinh dưỡng, tác giả đã vận dụng kinh nghiệm từ nạn đói năm 1945 để thiết lập một chế độ chăm sóc đặc biệt, ngăn chặn tình trạng "chết no" sau đói. Điểm sáng rực rỡ trong đoạn trích là tinh thần sáng tạo và quyết đoán
Khi số lượng lớn bệnh binh suy kiệt nặng vừa cáng tới, vừa dìu tới bệnh xá, ai cũng xúc động thương xót. Tôi như vừa nhìn thấy đồng bào ta chết đói năm 1945. Mọi người gầy dễ sợ, như thể da bọc xương, nổi rõ xương sườn. Cẳng tay, chân không nhìn thấy cơ, mặt như nhìn thấy một sọ người, chỉ còn đôi mắt và giọng nói thều thào. Nhiều đồng chí lính trẻ cứng khớp trong mọi tư thế: co quắp chân tay, ngồi bó gối, da xám xịt. Biết họ là những ca nặng, tôi xuống kiểm tra và thông báo không được tự động cho ăn uống, có thể chết đột tử. Huyết áp thật dễ sợ, còn 60, mạch 40-50, tim yếu, người luôn rét. Trong các trường đại học chưa ai giảng và nói tới loại này, thời kỳ học kinh nghiệm Liên Xô về, bệnh này cũng nói quá sơ sài, sách khác chưa nói tới. Chúng tôi họp chớp nhoáng đơn vị, hạ quyết tâm cứu sống các anh, lãnh đạo chặt chẽ không để chết no sau đói kéo dài. Năm 1945 cũng có cảnh này, hồi đó tôi còn là thiếu niên đã tham gia cứu đói, thấy cảnh người ăn cháo no xong lăn đùng ra chết. Kế hoạch chữa chạy gồm: phân loại ca nặng, vừa, nhẹ. Số nặng là những ca rối loạn tiêu hóa, ăn cháo loãng vẫn đi lỏng không cầm, không hấp thụ được, huyết áp thấp dưới 60, bị co quắp cứng khớp, tư tưởng bi quan quá, mất trí khôn, phải truyền dịch nuôi hàng tháng với đủ loại sinh tố, ăn nước thịt hầm. Theo dõi chặt chẽ những ca cấp cứu nặng, kiểm soát theo dõi từng ca, tránh vì đói để họ ăn không kiểm soát được. Có một điều rất khó là Glucô trên cấp chỉ ít ngày là hết mà ta phải truyền dịch 40-50 người hàng tháng. Tôi phải tìm cách khắc phục, vì số này uống vào không hấp thụ, lại còn ỉa lỏng, phải truyền dịch nuôi dưỡng lâu dài. Tôi xin trên được 10kg Glucô cũng chẳng được bao ngày.
Tôi nhớ hôm họp Quân y Quân khu thông báo ở miền Bắc có nơi dùng đường khử Lơvôđếch, nhưng chưa dùng rộng. Ở Quân khu V mới thử nghiệm. Tôi bàn với Dược cao Trần Dũng Sỹ thử pha chế đường khử. Tôi báo cáo với lãnh đạo phòng Hậu cần và Sư đoàn, được trên nhất trí cho làm nhưng yêu cầu đảm bảo an toàn. Đơn vị cử cán bộ dược đi xuống vùng địch mua đường Ôxtrơlia hạt to sạch sẽ, từng túi 5kg. Dược sỹ Sỹ dùng a xít Clohydric đun khử theo quy trình đã phổ biến. Khi thử nghiệm lần đầu tiên cho 5 người khỏe, trong đó có tôi. Chuẩn bị sẵn sàng cấp cứu đề phòng phản thuốc. Đợt đầu tiêm tĩnh mạch tăng dần 50, 100, 200, 500ml, rồi một lít truyền đẳng trương. Ban đầu mạch hơi chậm lại một ít, huyết áp bình thường, không thấy phản ứng khác. Sau dùng dung dịch ngọt ưu trương 30% tiêm 5-10, 20, 30, 50, 100, 200ml cũng không bị phản ứng. Kết luận thuốc pha chế đảm bảo chất lượng, nhưng pha dùng trong 24 giờ, có thể dùng cho người khỏe. Lần thứ 2 thử cho người sốt rét, dạ dày, suy dinh dưỡng, ca sốt nặng, sốt rét ác tính cũng không thấy phản ứng. Lần thứ 3 dùng cho ca suy kiệt ăn kém, thể trạng gầy yếu cũng không có phản ứng nên bắt đầu truyền dịch đó cho ít ca nặng, vừa (tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa rối loạn) với liều tăng dần, rồi dùng cả loại ngọt ưu trương tới 100ml/lần. Như vậy đã giải quyết xong việc cung cấp dịch truyền. Đối với những ca vừa và nhẹ, tổ chức ăn từng mâm có một nhân viên duy trì tốc độ nhai kỹ, uống từ từ ít một và chia khẩu phần từng người để tránh tâm lý bị thua thiệt khi ăn mà ăn nhanh. Kết quả 150 ca, có 70 ca khỏi hẳn về đơn vị, chết 20 ca do quá nặng, 60 ca phải điều trị hàng năm, ngoài dinh dưỡng còn phải điều trị phục hồi chức năng co gân, cứng khớp gối, khuỷu vai do thế ngồi nằm quá lâu ngày.
Thành công cũng nhiều trong giải quyết điều trị, nuôi dưỡng, song vẫn thấy phương tiện, kiến thức hạn chế nên chỉ cứu được 130 người, có 60 người tàn phế. Việc pha chế Lơvôđếch thành công mở ra khả năng giúp hồi sức các ca cấp cứu trước đây phải hạn chế về Glucô do chưa đủ cung cấp cho bệnh xá trong những năm 1972-1975. Tuy nhiên vẫn phải nhấn mạnh đảm bảo tốt nguyên liệu pha chế, chú ý khâu vô trùng và dùng trong 24 giờ. Khi truyền dịch phải theo dõi chặt chẽ bệnh nhân.
Những năm 1971-1975 chúng tôi vẫn phải dùng Lơvôđếch khi thiếu Glucô.


